Du lịch trong ngày
(iHay) - Thuở nhỏ xem phim Tây Du Ký, tôi cứ ngỡ loài khỉ chỉ sống trên núi mà thôi. Sau này mới “ngộ” ra thiên đường Hoa Quả Sơn của loài khỉ là chuyện trong phim. Nếu như chưa đặt chân đến Cần Giờ, mọi người sẽ không tin được ở vùng châu thổ lại có một đảo khỉ với hàng ngàn cá thể quần tụ y hệt như thiên đường hoang dã.
Không biết là ngẫu nhiên hay có sự sắp đặt mà cho đến bây giờ mỗi miền trên dải đất hình chữ S chỉ có duy nhất một nơi gọi là đảo khỉ. Miền bắc có đảo khỉ Cát Dứa nằm trên vịnh Lan Hạ (Quảng Ninh) và miền trung có đảo khỉ Hòn Lao thuộc vịnh Nha Phu (Khánh Hòa) - nơi mà đàn khỉ sống riêng biệt trên những hòn đảo độc lập. Riêng miền nam có đảo khỉ Cần Giờ.
Đảo khỉ Cần Giờ là cách định danh của dân gian khi mọi người thấy khỉ nhiều quá, chứ “chính danh” của nó là Lâm viên Cần Giờ nằm ven trục đường Rừng Sác thuộc xã Long Hòa, H.Cần Giờ (TP.HCM).
< Thường xuyên tràn ra lối bách bộ dành cho du khách.
Dulichgo
Thuở nhỏ xem phim Tây Du Ký, tôi cứ ngỡ loài khỉ chỉ sống trên núi mà thôi. Sau này mới “ngộ” ra thiên đường Hoa Quả Sơn của loài khỉ là chuyện trong phim… Nhìn những đàn khỉ tự do tung tẩy khắp nơi, không ít người ví Cần Giờ dường như đã trở thành thiên đường thật của những chú “Tôn Ngộ Không” tự bao giờ rồi. Nó không chỉ “làm chủ” cả khu lâm viên rộng lớn gần 2.000ha mà còn thể hiện “vai trò chủ nhà” khi tỏ ra vô cùng dạn dĩ. Du khách tản bộ nơi đây thì bất cứ lúc nào cũng bị “đụng” bởi cơ man nào là khỉ. Khỉ thoắt nhảy lên bàn ăn, trần xe ô tô quậy tưng, rồi thân thiện vọt lên vai bấu víu vào mặt, tóc, cổ áo du khách để… vòi được thưởng thức ăn.
Các khu rừng ngập mặn nguyên sinh Cần Giờ với hệ động thực vật đa dạng, độc đáo từng bị “chết trắng” do chất khai quang trong thời chiến tranh trước 1975. Nhưng nhờ đâu mà “những cánh rừng chết” một thời ấy lại có đàn khỉ lên đến hàng ngàn con.
< Khỉ ở Cần Giờ.
Và nhờ đâu chỉ trong vòng 25 năm sau, Cần Giờ trở thành một trong những cánh rừng đẹp nhất Đông Nam Á, được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn được phục hồi sau chiến tranh hóa học đầu tiên trên thế giới và cũng là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam? Đã có một sự hồi sinh thần kỳ ở vùng châu thổ Cần Giờ nhờ vào sức người miệt mài khôi phục màu xanh cây rừng ngút ngàn tầm mắt từ những khoảnh đất trơ trụi. Cũng chính sức người đã tạo ra đảo khỉ độc đáo ở vùng đất cũng rất độc đáo khi nó được hình thành bởi 3 cửa sông Sài Gòn, Đồng Nai và Vàm Cỏ rộng lớn này.
Từng là lính biên phòng, ông Dương Đình Bơ giải ngũ để đi trồng rừng và giữ rừng từ năm 1982. Ông Bơ đã nghỉ hưu nhưng anh em đang làm công tác quản lý ở đảo khỉ vẫn luôn xem ông là người tiên phong trực tiếp dụ khỉ để gầy bầy đàn khi mà ban đầu nó mới chỉ có lác đác vài ba con. Chính ông Bơ cũng không ngờ rằng có ngày đàn khỉ quần tụ đông đúc như bây giờ. Một trong những người điển hình “kế tục sự nghiệp dụ khỉ, nuôi khỉ giữa rừng ngập mặn” một thời của ông Bơ, là anh Nguyễn Hữu Thước với thâm niên 17 năm gắn bó cùng đảo khỉ. Anh Thước quê ở Chợ Gạo (Tiền Giang).
< Tự do tung tẩy trong những cánh rừng ngập mặn.
Năm 1999 anh cưới vợ người Cần Giờ rồi về đây lập nghiệp. Bám trụ được lâu năm như anh Thước có thể nói cũng là một kỳ tích. Đường sá trước đây ở đảo khỉ vô cùng cách trở bởi không có đường bộ mà chỉ có thường thủy len lõi theo những kênh rạch chằn chịt giữa rừng ngập mặn. từ đảo khỉ về trung tâm thành phố bây giờ chỉ mất khoảng hơn 1 giờ đi ô tô, nhưng trước đây nếu có việc cần đi thì phải mất cả ngày đi thuyền. Và bây giờ đảo khỉ cũng không hoang vắng như xưa nữa mà nó đã trở thành một “Hoa Quả Sơn” của đời thật, một thỏi nam châm hút du khách thập phương đến tham quan mỗi ngày.
Dulichgo
Đàn khỉ sinh sôi, tăng số lượng đàn theo năm tháng và sự bám trụ kiên cường trong bao bộn bề gian truân của những người như ông Bơ, anh Thước. Không phải là chuyên gia về động vật hoang dã nhưng bằng kinh nghiệm thực tế, anh Thước có khả năng “đọc hiểu tường tận” tập tính loài khỉ.
Anh Thước “đếm” được đàn khỉ bây giờ có gần 1.500 con, chủ yếu là khỉ đuôi dài, chia thành 7 bầy sống ở 7 khu vực trên đảo. Mỗi bầy có một lãnh địa riêng, thường thì nó không xâm chiếm nhau nhưng thỉnh thoảng vẫn xảy ra “đại chiến” để thể hiện sức mạnh thống lĩnh trong môi trường tự nhiên.
< Anh Nguyễn Hữu Thước với thâm niên 17 năm gắn bó cùng đảo khỉ.
Ngay trong mỗi bầy khi đến mùa giao phối cũng không hiếm lần đụng độ, rượt nhau chạy te tua giữa những chú khỉ đực. Khỉ cái ở đảo khỉ động dục vào tầm tháng 9 đến tháng 11 hàng năm, đến đầu mùa mưa (tháng 6 năm sau) thì đẻ (1 lần khỉ mẹ đẻ 1 khỉ con). Sau khi đẻ 4 tháng, khỉ mẹ lại bước vào chu kỳ sinh sản tiếp theo. Không ít lần anh Thước trở thành bà đỡ bất đắc dĩ khi khỉ mẹ bất ngờ gặp sự cố về sức khỏe.
“Hoa Quả Sơn” ở vùng châu thổ Cần Giờ được bảo vệ như báu vật, ngoài bộ phận quản lý thuộc Bộ Tư lệnh TP.HCM còn có sự tham gia của lực lượng biên phòng, kiểm lâm, công an... Một điều thú vị là người dân Cần Giờ có thói quen “cứ chờ đến năm con khỉ để đi xông đất đảo khỉ lấy hên”. Điểm dừng chân để du khách đi ca nô vào Chiến khu cách mạng Rừng Sác bây giờ là “căn cứ địa” của các bầy khỉ. Mỗi lần đến giờ ăn thì nó tràn ra các trục đường vốn dành cho mọi người bách bộ, vừa ngấu nghiến thức ăn vừa “làm cảnh” cho mọi người thỏa thích chụp hình, quay phim.
Theo Tân Phú - Ngọc Hải (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!
Không biết là ngẫu nhiên hay có sự sắp đặt mà cho đến bây giờ mỗi miền trên dải đất hình chữ S chỉ có duy nhất một nơi gọi là đảo khỉ. Miền bắc có đảo khỉ Cát Dứa nằm trên vịnh Lan Hạ (Quảng Ninh) và miền trung có đảo khỉ Hòn Lao thuộc vịnh Nha Phu (Khánh Hòa) - nơi mà đàn khỉ sống riêng biệt trên những hòn đảo độc lập. Riêng miền nam có đảo khỉ Cần Giờ.
Đảo khỉ Cần Giờ là cách định danh của dân gian khi mọi người thấy khỉ nhiều quá, chứ “chính danh” của nó là Lâm viên Cần Giờ nằm ven trục đường Rừng Sác thuộc xã Long Hòa, H.Cần Giờ (TP.HCM).
< Thường xuyên tràn ra lối bách bộ dành cho du khách.
Dulichgo
Thuở nhỏ xem phim Tây Du Ký, tôi cứ ngỡ loài khỉ chỉ sống trên núi mà thôi. Sau này mới “ngộ” ra thiên đường Hoa Quả Sơn của loài khỉ là chuyện trong phim… Nhìn những đàn khỉ tự do tung tẩy khắp nơi, không ít người ví Cần Giờ dường như đã trở thành thiên đường thật của những chú “Tôn Ngộ Không” tự bao giờ rồi. Nó không chỉ “làm chủ” cả khu lâm viên rộng lớn gần 2.000ha mà còn thể hiện “vai trò chủ nhà” khi tỏ ra vô cùng dạn dĩ. Du khách tản bộ nơi đây thì bất cứ lúc nào cũng bị “đụng” bởi cơ man nào là khỉ. Khỉ thoắt nhảy lên bàn ăn, trần xe ô tô quậy tưng, rồi thân thiện vọt lên vai bấu víu vào mặt, tóc, cổ áo du khách để… vòi được thưởng thức ăn.
Các khu rừng ngập mặn nguyên sinh Cần Giờ với hệ động thực vật đa dạng, độc đáo từng bị “chết trắng” do chất khai quang trong thời chiến tranh trước 1975. Nhưng nhờ đâu mà “những cánh rừng chết” một thời ấy lại có đàn khỉ lên đến hàng ngàn con.
< Khỉ ở Cần Giờ.Và nhờ đâu chỉ trong vòng 25 năm sau, Cần Giờ trở thành một trong những cánh rừng đẹp nhất Đông Nam Á, được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn được phục hồi sau chiến tranh hóa học đầu tiên trên thế giới và cũng là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam? Đã có một sự hồi sinh thần kỳ ở vùng châu thổ Cần Giờ nhờ vào sức người miệt mài khôi phục màu xanh cây rừng ngút ngàn tầm mắt từ những khoảnh đất trơ trụi. Cũng chính sức người đã tạo ra đảo khỉ độc đáo ở vùng đất cũng rất độc đáo khi nó được hình thành bởi 3 cửa sông Sài Gòn, Đồng Nai và Vàm Cỏ rộng lớn này.
Từng là lính biên phòng, ông Dương Đình Bơ giải ngũ để đi trồng rừng và giữ rừng từ năm 1982. Ông Bơ đã nghỉ hưu nhưng anh em đang làm công tác quản lý ở đảo khỉ vẫn luôn xem ông là người tiên phong trực tiếp dụ khỉ để gầy bầy đàn khi mà ban đầu nó mới chỉ có lác đác vài ba con. Chính ông Bơ cũng không ngờ rằng có ngày đàn khỉ quần tụ đông đúc như bây giờ. Một trong những người điển hình “kế tục sự nghiệp dụ khỉ, nuôi khỉ giữa rừng ngập mặn” một thời của ông Bơ, là anh Nguyễn Hữu Thước với thâm niên 17 năm gắn bó cùng đảo khỉ. Anh Thước quê ở Chợ Gạo (Tiền Giang).
< Tự do tung tẩy trong những cánh rừng ngập mặn.Năm 1999 anh cưới vợ người Cần Giờ rồi về đây lập nghiệp. Bám trụ được lâu năm như anh Thước có thể nói cũng là một kỳ tích. Đường sá trước đây ở đảo khỉ vô cùng cách trở bởi không có đường bộ mà chỉ có thường thủy len lõi theo những kênh rạch chằn chịt giữa rừng ngập mặn. từ đảo khỉ về trung tâm thành phố bây giờ chỉ mất khoảng hơn 1 giờ đi ô tô, nhưng trước đây nếu có việc cần đi thì phải mất cả ngày đi thuyền. Và bây giờ đảo khỉ cũng không hoang vắng như xưa nữa mà nó đã trở thành một “Hoa Quả Sơn” của đời thật, một thỏi nam châm hút du khách thập phương đến tham quan mỗi ngày.
Dulichgo
Đàn khỉ sinh sôi, tăng số lượng đàn theo năm tháng và sự bám trụ kiên cường trong bao bộn bề gian truân của những người như ông Bơ, anh Thước. Không phải là chuyên gia về động vật hoang dã nhưng bằng kinh nghiệm thực tế, anh Thước có khả năng “đọc hiểu tường tận” tập tính loài khỉ.
Anh Thước “đếm” được đàn khỉ bây giờ có gần 1.500 con, chủ yếu là khỉ đuôi dài, chia thành 7 bầy sống ở 7 khu vực trên đảo. Mỗi bầy có một lãnh địa riêng, thường thì nó không xâm chiếm nhau nhưng thỉnh thoảng vẫn xảy ra “đại chiến” để thể hiện sức mạnh thống lĩnh trong môi trường tự nhiên.
< Anh Nguyễn Hữu Thước với thâm niên 17 năm gắn bó cùng đảo khỉ.
Ngay trong mỗi bầy khi đến mùa giao phối cũng không hiếm lần đụng độ, rượt nhau chạy te tua giữa những chú khỉ đực. Khỉ cái ở đảo khỉ động dục vào tầm tháng 9 đến tháng 11 hàng năm, đến đầu mùa mưa (tháng 6 năm sau) thì đẻ (1 lần khỉ mẹ đẻ 1 khỉ con). Sau khi đẻ 4 tháng, khỉ mẹ lại bước vào chu kỳ sinh sản tiếp theo. Không ít lần anh Thước trở thành bà đỡ bất đắc dĩ khi khỉ mẹ bất ngờ gặp sự cố về sức khỏe.
“Hoa Quả Sơn” ở vùng châu thổ Cần Giờ được bảo vệ như báu vật, ngoài bộ phận quản lý thuộc Bộ Tư lệnh TP.HCM còn có sự tham gia của lực lượng biên phòng, kiểm lâm, công an... Một điều thú vị là người dân Cần Giờ có thói quen “cứ chờ đến năm con khỉ để đi xông đất đảo khỉ lấy hên”. Điểm dừng chân để du khách đi ca nô vào Chiến khu cách mạng Rừng Sác bây giờ là “căn cứ địa” của các bầy khỉ. Mỗi lần đến giờ ăn thì nó tràn ra các trục đường vốn dành cho mọi người bách bộ, vừa ngấu nghiến thức ăn vừa “làm cảnh” cho mọi người thỏa thích chụp hình, quay phim.
Theo Tân Phú - Ngọc Hải (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!
(DNSG) - Cách hồ Gươm chỉ khoảng 15km có một ngôi làng cổ đã bao đời đổ bóng bên dòng sông Nhuệ. Từng gốc cây, con ngõ, mái nhà, trang gia phả... của làng Khúc Thủy (xã Cự Khê, Thanh Oai, Hà Nội) hiện ra với dáng vẻ rất riêng và đầy sức cuốn hút...
< Cổng làng Khúc Thủy cổ kính, uy nghiêm.
1. Làng Cự Đà dường như đã quá nổi tiếng với nhiều câu chuyện, sự trải nghiệm của nhiều người trong những năm qua. Làng Khúc Thủy chỉ cách làng Cự Đà một con ngõ, tức vài bước chân, là ngôi làng nhỏ bé, đi bộ dọc con đường bê tông ven sông Nhuệ chừng vài trăm mét là đến cuối làng. Thế mới hiểu những người phương xa khi đi lướt qua đây thường nhầm tưởng chỉ có một làng cổ.
Nhưng nếu bước thật chậm và chú ý quan sát sẽ thấy cổng làng Khúc Thủy cổ kính, uy nghi. Dù mới được trùng tu cách đây 20 năm nhưng những dấu tích của thời gian cùng nét vẽ, trang trí đã chứng tỏ chiếc cổng ấy có từ rất lâu rồi. Cổng làng Cự Đà cũng được đánh giá là cổ. Tuy kiến trúc cổng của hai làng có khác nhau, nhưng chắc chắn chúng đều có lịch sử hàng trăm năm.
< Chùa và đình làng Khúc Thủy trong nắng sớm.
2. Nằm bên bờ dòng Nhuệ Giang hiền hòa, làng Khúc Thủy có lịch sử gần 1.000 năm, đã chứng kiến bao đổi thay nơi mảnh đất cửa ngõ phía Nam của Thủ đô. Thời gian thấm thoát thoi đưa, và mỗi vòng quay của chiếc kim đồng hồ lại phủ lên những mái chùa, con ngõ, bức tường, gốc cây nơi đây một lớp màu xưa cũ. Trong cái nắng nhạt đầu Đông, làng cổ Khúc Thủy hiện ra thật thanh bình nhưng cũng đầy hoài niệm.
Khi bước qua cổng làng, hình ảnh đầu tiên hiện ra trước mắt là hàng cây cổ thụ với bốn thân muỗm và một gốc đa. Bên chiếc giếng cổ ngay sát đình làng, những cây muỗm, cây đa có từ vài trăm năm trước tỏa bóng mát xuống con đường như để che chở cho con cháu, du khách gần xa tìm về với làng.
Những thân cây muỗm to cỡ vài người ôm đứng đó bao đời "nhìn ngắm" bao người qua lại. Gốc cây là nơi chiều chiều các ông lão rủ nhau ra đánh cờ, bóng bà, bóng mẹ đi chợ ngang qua, hay lũ trẻ hò reo đánh bi, đánh đáo mỗi trưa Hè.
< Cổng, tường bao nhiều ngôi nhà ở Khúc Thủy rất cầu kỳ, độc đáo.
Không chờ cơ quan chức năng phong tặng danh hiệu cây di sản, bởi theo các cụ tầm 80 - 90 tuổi ở làng Khúc Thủy, dân làng đã xem chúng là di sản của làng. Chúng không chỉ có giá trị về cảnh quan thiên nhiên mà còn là nét văn hóa truyền thống gắn liền với đất và người Khúc Thủy.
Dulichgo
3. Mỗi bờ tường, mái hiên, con ngõ ở Khúc Thủy đều mang nét xưa. Hiếm có ngôi làng nào ở vùng đồng bằng Bắc Bộ còn giữ được những nét xưa nguyên bản như ở Khúc Thủy. Chỉ cần đi sâu vào vài con ngõ nhỏ, ta như lạc vào một không gian xa xưa.
Cái cảm giác hoài niệm ấy dường như mới xuất hiện trong ta khi đặt bước đến làng Cự Đà. Nhưng nếu tìm hiểu kỹ, so sánh tỉ mỉ thì thấy kiến trúc và văn hóa truyền thống ở Khúc Thủy có sự khác biệt so với Cự Đà. Nếu ở Cự Đà còn khá nhiều ngôi nhà mang kiến trúc thuần Pháp hoặc Pháp - Việt kết hợp với hai tầng uy nghi, bề thế... thì ở Khúc Thủy dường như rất khó tìm thấy một ngôi nhà như thế còn sót lại.
< Những mảng vữa rơi để lộ dấu thời gian qua bức tường.
Ở Khúc Thủy, nhà cổ vài trăm năm hay chỉ vài chục năm hầu như vẫn giữ nguyên nét thuần Việt của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đó là nhà ngói ba gian hai chái. Chúng tôi đã ghé thăm vài ngôi nhà ở Khúc Thủy theo sự chỉ dẫn của các cụ cao niên và nhận thấy nhà cổ ở Khúc Thủy thường lợp ngói mũi hài, cột lim và chạm trổ cửa, hiên rất cầu kỳ, không khác gì đình, chùa.
Cùng một nét hoài cổ nhưng nhà ở Cự Đà mang hơi hướng Tây hóa, còn nhà ở Khúc Thủy vẫn giữ nguyên sự thuần Việt. Ở những hàng hiên, trên những chiếc cổng cổ kính, từng đám rêu bám chặt tầng tầng lớp lớp lưu cữu từ hàng trăm năm qua. Trên nhiều bức tường bao, các mảng vữa dần rơi xuống để lộ màu đỏ của gạch cổ.
4. Bên cạnh những gốc cây cổ thụ, mái nhà có niên đại lâu năm, Khúc Thủy còn có truyền thống hiếu học rất đáng tự hào. Các gia đình ở Khúc Thủy vẫn giữ được nếp sống, sinh hoạt truyền thống gia giáo. Người trong làng và trong mỗi gia đình đều sống hòa ái, trọng đạo lý. Nhà có gia phong, làng có hương ước và tuân theo quốc pháp.
< Cổng đình Khúc Thủy với gác chuông.
Dulichgo
Ở làng Khúc Thủy có rất nhiều dòng họ có truyền thống giữ gìn nhà thờ họ với nhiều hoành phi, câu đối, đồ thờ rất bài bản, mang đậm nét văn hóa của người Việt xưa. Hằng năm, các dòng họ ở Khúc Thủy vẫn làm lễ giỗ tổ để con cháu hiểu rõ cội nguồn, truyền thống tốt đẹp bao đời và noi theo.
Nổi bật, tiêu biểu nhất trong các dòng họ ở Khúc Thủy là họ Đào. Nhà thờ họ Đào nằm bên bờ sông Nhuệ có câu đối thể hiện niềm tự hào của dòng tộc: "Thi lễ phấn phát gia phong, khoa giáp đỗ liền ba tiến sĩ/ Xuân thu lưu lại trong quốc sử, phúc nhà sinh hạ một cung phi".
Tìm hiểu kỹ hơn về lịch sử khoa bảng thời phong kiến của họ Đào ở Khúc Thủy thì chúng tôi được biết cụ Đào Nam Khang (đời thứ 4) đỗ tiến sĩ khoa Sĩ Vọng đời Hậu Lê. Ông từng giữ chức Triều liệt đại phu, trông coi Ty Hiến sứ xứ Thuận Hóa kiêm Tri Quốc Tử Giám. Đời thứ 5 đến lượt cụ Đào Nam Kiệt đỗ tiến sĩ năm 1472, giữ chức Tả thị lang Bộ Binh, trông coi xứ Hưng Hóa, tước Vĩnh Giang hầu. Đời thứ 6, cụ Đào Công Thích (con cụ Đào Nam Kiệt) đỗ Hoàng Giáp năm 1484, giữ chức Tả thị lang Bộ Binh, làm việc ở Ty Hiến sứ, tước Thanh Giang hầu.
< Chùa Thắng Nghiêm.
Truyền thống hiếu học của làng Khúc Thủy được tiếp nối và phát huy đến ngày nay. Ở thế kỷ XX, họ Đào có học giả Đào Duy Anh, em ruột của ông là nhà báo, nhà tư tưởng và lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam Đào Duy Tùng.
Không chỉ có truyền thống khoa bảng với đức hiếu học, người Khúc Thủy còn rất anh dũng, nhiều đời oanh liệt chống giặc ngoại xâm. Đình làng còn lưu giữ tấm bảng "Mỹ tục khả phong" triều Nguyễn ban tặng do làng có công chống giặc ngoại xâm. Sau lại được ban sắc tặng thưởng biển ngạch "Khúc Thủy nghĩa dân" do có công chống thổ phỉ.
Dulichgo
5. Dân làng Khúc Thủy đã bảo tồn được giếng làng có từ vài trăm năm. Trước đây, nguồn nước sinh hoạt của dân làng chủ yếu lấy từ giếng này. Về văn hóa tâm linh, ở Khúc Thủy có một ngôi đình và một ngôi chùa rất nổi tiếng. Cổng đình Khúc Thủy làm kiểu tam quan, trên có gác chuông.
< Khu mộ tháp bên trong chùa Thắng Nghiêm.
Hằng năm, vào ngày rằm tháng Hai Âm lịch, dân làng lại mở hội lớn để tưởng nhớ công đức vị Thành hoàng. Theo tư liệu ghi lại, Thành hoàng chính là Trần Thông, con trai của danh tướng Trần Khát Chân đời Trần.
Gần đình Khúc Thủy là ngôi chùa Thắng Nghiêm rộng lớn, có lịch sử hơn 1.000 năm và nơi đây hiện nay thường diễn ra nhiều đại lễ quan trọng của Phật giáo, trong đó có lễ Phật Đản.
Với những nét truyền thống cổ xưa, văn hóa tốt đẹp lâu đời, di sản vật thể lẫn phi vật thể đang còn lưu giữ, Khúc Thủy là ngôi làng cổ cần được bảo tồn và giới thiệu rộng rãi đến công chúng.
Theo Diệp Băng (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!
Ngôi làng có biển số nhà
< Cổng làng Khúc Thủy cổ kính, uy nghiêm.
1. Làng Cự Đà dường như đã quá nổi tiếng với nhiều câu chuyện, sự trải nghiệm của nhiều người trong những năm qua. Làng Khúc Thủy chỉ cách làng Cự Đà một con ngõ, tức vài bước chân, là ngôi làng nhỏ bé, đi bộ dọc con đường bê tông ven sông Nhuệ chừng vài trăm mét là đến cuối làng. Thế mới hiểu những người phương xa khi đi lướt qua đây thường nhầm tưởng chỉ có một làng cổ.
Nhưng nếu bước thật chậm và chú ý quan sát sẽ thấy cổng làng Khúc Thủy cổ kính, uy nghi. Dù mới được trùng tu cách đây 20 năm nhưng những dấu tích của thời gian cùng nét vẽ, trang trí đã chứng tỏ chiếc cổng ấy có từ rất lâu rồi. Cổng làng Cự Đà cũng được đánh giá là cổ. Tuy kiến trúc cổng của hai làng có khác nhau, nhưng chắc chắn chúng đều có lịch sử hàng trăm năm.
< Chùa và đình làng Khúc Thủy trong nắng sớm.
2. Nằm bên bờ dòng Nhuệ Giang hiền hòa, làng Khúc Thủy có lịch sử gần 1.000 năm, đã chứng kiến bao đổi thay nơi mảnh đất cửa ngõ phía Nam của Thủ đô. Thời gian thấm thoát thoi đưa, và mỗi vòng quay của chiếc kim đồng hồ lại phủ lên những mái chùa, con ngõ, bức tường, gốc cây nơi đây một lớp màu xưa cũ. Trong cái nắng nhạt đầu Đông, làng cổ Khúc Thủy hiện ra thật thanh bình nhưng cũng đầy hoài niệm.
Khi bước qua cổng làng, hình ảnh đầu tiên hiện ra trước mắt là hàng cây cổ thụ với bốn thân muỗm và một gốc đa. Bên chiếc giếng cổ ngay sát đình làng, những cây muỗm, cây đa có từ vài trăm năm trước tỏa bóng mát xuống con đường như để che chở cho con cháu, du khách gần xa tìm về với làng.
Những thân cây muỗm to cỡ vài người ôm đứng đó bao đời "nhìn ngắm" bao người qua lại. Gốc cây là nơi chiều chiều các ông lão rủ nhau ra đánh cờ, bóng bà, bóng mẹ đi chợ ngang qua, hay lũ trẻ hò reo đánh bi, đánh đáo mỗi trưa Hè.
< Cổng, tường bao nhiều ngôi nhà ở Khúc Thủy rất cầu kỳ, độc đáo.
Không chờ cơ quan chức năng phong tặng danh hiệu cây di sản, bởi theo các cụ tầm 80 - 90 tuổi ở làng Khúc Thủy, dân làng đã xem chúng là di sản của làng. Chúng không chỉ có giá trị về cảnh quan thiên nhiên mà còn là nét văn hóa truyền thống gắn liền với đất và người Khúc Thủy.
Dulichgo
3. Mỗi bờ tường, mái hiên, con ngõ ở Khúc Thủy đều mang nét xưa. Hiếm có ngôi làng nào ở vùng đồng bằng Bắc Bộ còn giữ được những nét xưa nguyên bản như ở Khúc Thủy. Chỉ cần đi sâu vào vài con ngõ nhỏ, ta như lạc vào một không gian xa xưa.
Cái cảm giác hoài niệm ấy dường như mới xuất hiện trong ta khi đặt bước đến làng Cự Đà. Nhưng nếu tìm hiểu kỹ, so sánh tỉ mỉ thì thấy kiến trúc và văn hóa truyền thống ở Khúc Thủy có sự khác biệt so với Cự Đà. Nếu ở Cự Đà còn khá nhiều ngôi nhà mang kiến trúc thuần Pháp hoặc Pháp - Việt kết hợp với hai tầng uy nghi, bề thế... thì ở Khúc Thủy dường như rất khó tìm thấy một ngôi nhà như thế còn sót lại.
< Những mảng vữa rơi để lộ dấu thời gian qua bức tường.Ở Khúc Thủy, nhà cổ vài trăm năm hay chỉ vài chục năm hầu như vẫn giữ nguyên nét thuần Việt của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đó là nhà ngói ba gian hai chái. Chúng tôi đã ghé thăm vài ngôi nhà ở Khúc Thủy theo sự chỉ dẫn của các cụ cao niên và nhận thấy nhà cổ ở Khúc Thủy thường lợp ngói mũi hài, cột lim và chạm trổ cửa, hiên rất cầu kỳ, không khác gì đình, chùa.
Cùng một nét hoài cổ nhưng nhà ở Cự Đà mang hơi hướng Tây hóa, còn nhà ở Khúc Thủy vẫn giữ nguyên sự thuần Việt. Ở những hàng hiên, trên những chiếc cổng cổ kính, từng đám rêu bám chặt tầng tầng lớp lớp lưu cữu từ hàng trăm năm qua. Trên nhiều bức tường bao, các mảng vữa dần rơi xuống để lộ màu đỏ của gạch cổ.
4. Bên cạnh những gốc cây cổ thụ, mái nhà có niên đại lâu năm, Khúc Thủy còn có truyền thống hiếu học rất đáng tự hào. Các gia đình ở Khúc Thủy vẫn giữ được nếp sống, sinh hoạt truyền thống gia giáo. Người trong làng và trong mỗi gia đình đều sống hòa ái, trọng đạo lý. Nhà có gia phong, làng có hương ước và tuân theo quốc pháp.
< Cổng đình Khúc Thủy với gác chuông.Dulichgo
Ở làng Khúc Thủy có rất nhiều dòng họ có truyền thống giữ gìn nhà thờ họ với nhiều hoành phi, câu đối, đồ thờ rất bài bản, mang đậm nét văn hóa của người Việt xưa. Hằng năm, các dòng họ ở Khúc Thủy vẫn làm lễ giỗ tổ để con cháu hiểu rõ cội nguồn, truyền thống tốt đẹp bao đời và noi theo.
Nổi bật, tiêu biểu nhất trong các dòng họ ở Khúc Thủy là họ Đào. Nhà thờ họ Đào nằm bên bờ sông Nhuệ có câu đối thể hiện niềm tự hào của dòng tộc: "Thi lễ phấn phát gia phong, khoa giáp đỗ liền ba tiến sĩ/ Xuân thu lưu lại trong quốc sử, phúc nhà sinh hạ một cung phi".
Tìm hiểu kỹ hơn về lịch sử khoa bảng thời phong kiến của họ Đào ở Khúc Thủy thì chúng tôi được biết cụ Đào Nam Khang (đời thứ 4) đỗ tiến sĩ khoa Sĩ Vọng đời Hậu Lê. Ông từng giữ chức Triều liệt đại phu, trông coi Ty Hiến sứ xứ Thuận Hóa kiêm Tri Quốc Tử Giám. Đời thứ 5 đến lượt cụ Đào Nam Kiệt đỗ tiến sĩ năm 1472, giữ chức Tả thị lang Bộ Binh, trông coi xứ Hưng Hóa, tước Vĩnh Giang hầu. Đời thứ 6, cụ Đào Công Thích (con cụ Đào Nam Kiệt) đỗ Hoàng Giáp năm 1484, giữ chức Tả thị lang Bộ Binh, làm việc ở Ty Hiến sứ, tước Thanh Giang hầu.
< Chùa Thắng Nghiêm.Truyền thống hiếu học của làng Khúc Thủy được tiếp nối và phát huy đến ngày nay. Ở thế kỷ XX, họ Đào có học giả Đào Duy Anh, em ruột của ông là nhà báo, nhà tư tưởng và lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam Đào Duy Tùng.
Không chỉ có truyền thống khoa bảng với đức hiếu học, người Khúc Thủy còn rất anh dũng, nhiều đời oanh liệt chống giặc ngoại xâm. Đình làng còn lưu giữ tấm bảng "Mỹ tục khả phong" triều Nguyễn ban tặng do làng có công chống giặc ngoại xâm. Sau lại được ban sắc tặng thưởng biển ngạch "Khúc Thủy nghĩa dân" do có công chống thổ phỉ.
Dulichgo
5. Dân làng Khúc Thủy đã bảo tồn được giếng làng có từ vài trăm năm. Trước đây, nguồn nước sinh hoạt của dân làng chủ yếu lấy từ giếng này. Về văn hóa tâm linh, ở Khúc Thủy có một ngôi đình và một ngôi chùa rất nổi tiếng. Cổng đình Khúc Thủy làm kiểu tam quan, trên có gác chuông.
< Khu mộ tháp bên trong chùa Thắng Nghiêm.Hằng năm, vào ngày rằm tháng Hai Âm lịch, dân làng lại mở hội lớn để tưởng nhớ công đức vị Thành hoàng. Theo tư liệu ghi lại, Thành hoàng chính là Trần Thông, con trai của danh tướng Trần Khát Chân đời Trần.
Gần đình Khúc Thủy là ngôi chùa Thắng Nghiêm rộng lớn, có lịch sử hơn 1.000 năm và nơi đây hiện nay thường diễn ra nhiều đại lễ quan trọng của Phật giáo, trong đó có lễ Phật Đản.
Với những nét truyền thống cổ xưa, văn hóa tốt đẹp lâu đời, di sản vật thể lẫn phi vật thể đang còn lưu giữ, Khúc Thủy là ngôi làng cổ cần được bảo tồn và giới thiệu rộng rãi đến công chúng.
Theo Diệp Băng (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!
Ngôi làng có biển số nhà
(VNN) - Tôi như lạc vào mê cung của đất và lửa trong tòa nhà được kiến trúc cách điệu theo mô hình lò nung gốm sứ Thanh Hà, Hội An, Quảng Nam. Cả 2 tòa nhà kiến trúc thô mộc từ gạch trần và tre được xây dựng trên không gian 6.500 m2 là nơi lưu giữ hồn cốt làng gốm cổ Thanh Hà có tuổi đời hơn 500 năm.
Trong ký ức của Kiến trúc sư trẻ Nguyễn Văn Nguyên - đứa con sinh ra từ làng gốm cổ Thanh Hà, Hội An vẫn nguyên vẹn của những ngày thơ dại chìm đắm trong đất sét quê nhà. Sau hơn 20 năm xa quê, chàng kiến trúc sư trẻ quay lại làng Nam Diêu, Thanh Hà, nơi nguồn cội để dựng lại tòa nhà theo kiến trúc của lò gốm xưa bằng đất sét nung.
Bước vào khu đất rộng hơn 6.500m2 là hình ảnh 2 tòa nhà được xây dựng bằng gạch trần mà theo Nguyên mô tả chính nơi ấy là nơi lưu giữ những tinh hoa, hồn cốt của làng gốm Thanh Hà nổi tiếng cách đây hơn 500 năm được cách điệu theo mô hình lò nung gốm: Lò úp và lò ngửa có diện tích sử dụng rộng hơn 2.000m2.
Dulichgo
Cả một không gian rộng lớn trong 2 tòa nhà này là cả câu chuyện kể bằng hình ảnh, vật dụng, hiện vật… được kết nối suốt chiều dài 500 năm của làng gốm cổ. Theo lời Nguyên, đó là câu chuyện kể về đất sét và lửa mà chàng kiến trúc sư trẻ dồn cả tâm huyết cũng như tiền bạc tích góp dựng nên một công viên đất nung đầu tiên nơi đô thị cổ Hội An.
Nguyên kể rằng anh vẫn nhớ như in ngày đầu tiên sau 20 năm xa quê trở lại làng Nam Diêu gặp các cụ cao niên trong làng để xin xây dựng công viên văn hóa đất nung Thanh Hà. Đó là hành trình trở về cội nguồn mà ở đó là một “không gian – chỉ toàn là gốm, là đất nung” mà nói như các bậc cao niên của làng gốm cổ này thì đó là nơi cháu con hậu thế như Nguyên thỏa sức với đam mê đất và lửa để giữ làng nghề 500 năm.
Trong không gian rộng hơn 2.000 m2 của 2 tòa nhà kiến trúc cách điệu 2 lò nung gốm là cả một thế giới của đất, của lửa, của những thô mộc trăm năm trước. Những viên gạch đỏ au làm nên một không gian toàn màu của đất nâu, hay màu của đất sóng sánh cùng lửa – đỏ au. Cả thế giới của đất nung, của gốm sứ được tạo nên từ những bàn tay sần sùi, những bàn chân cong vẹo vì nhào nặn đất còn hằn in trong từng cuộc đời của các nghệ nhân làng gốm cổ này.
Dulichgo
Cụ bà Nguyễn Thị Được kể lại: “Dân làng ở đây bao đời sống chết đều nhờ vào cục đất sét. Nhờ có đất sét mà có sản phẩm góp mặt cho đời. Nhờ có những sản phẩm được nung qua lò úp, lò ngửa mà nuôi được con cái ăn học thành tài… Còn có đất sét là còn có đất sống…”.
Là người ngoại đạo, chẳng hiểu mô tê về kiến trúc, về xếp đặt nhưng khi đặt chân vào không gian của 2 tòa nhà thô mộc được xây dựng bằng gạch, gốm, đất nung và thân tre thô mộc tôi mới cảm nhận hồn cốt của làng gốm cổ 500 năm dâu bể.
Cả thế giới thu nhỏ Công viên Đất nung Thanh Hà sau hơn 4 năm xây dựng là nơi gìn giữ những nét đẹp của làng nghề 500 năm, là giấc mơ chung của những người con Thanh Hà. Gọi là công viên, nhưng đây là một không gian của một bảo tàng gốm sứ, là ngôi nhà chung của các nghệ sĩ từ khắp nơi hội tụ về thỏa ước mơ với đất và lửa để sáng tạo.
Dulichgo
Khu công viên Đất nung Thanh Hà khởi công từ tháng 7.2011 với kinh phí đầu tư 22 tỷ đồng. Năm hạng mục chính tại công viên bao gồm: khu bảo tàng gốm, khu trưng bày ngoài trời, khu làng nghề Nam Diêu, khu trại sáng tác, khu vực dịch vụ và xúc tiến thương mại.
Khu bảo tàng gốm trưng bày quá trình hình thành làng nghề gốm, các hiện vật liên quan đến quá trình phát triển của các làng nghề gốm…
Khu trưng bày ngoài trời gồm các tượng gốm lớn, cũng là không gian cảnh quan. Khu trưng bày các mô hình thu nhỏ của các di sản văn hóa Việt Nam và Thế giới như: khu Thành nội Huế, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Đô thị cổ Hội An. Các công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới như: kim tự tháp, đền Parthenon, Đấu trường Colosseum, Khải hoàn môn, tòa thánh Vatican…
Không gian Công viên Đất nung Thanh Hà đã tổ chức nhiều trại điêu khắc, sáng tác, triển lãm cho các nghệ sĩ trong và ngoài nước. Ông Roby Bellemans - Giám đốc điều hành công viên cho biết sau khi đi vào hoạt động, công viên sẽ có nhiều dự án trải nghiệm dành cho trẻ em và những người đam mê đất và lửa của nghề gốm cổ xưa.
Theo Vũ Trung (Vietnamnet)
Du lịch, GO!
Trong ký ức của Kiến trúc sư trẻ Nguyễn Văn Nguyên - đứa con sinh ra từ làng gốm cổ Thanh Hà, Hội An vẫn nguyên vẹn của những ngày thơ dại chìm đắm trong đất sét quê nhà. Sau hơn 20 năm xa quê, chàng kiến trúc sư trẻ quay lại làng Nam Diêu, Thanh Hà, nơi nguồn cội để dựng lại tòa nhà theo kiến trúc của lò gốm xưa bằng đất sét nung.
Bước vào khu đất rộng hơn 6.500m2 là hình ảnh 2 tòa nhà được xây dựng bằng gạch trần mà theo Nguyên mô tả chính nơi ấy là nơi lưu giữ những tinh hoa, hồn cốt của làng gốm Thanh Hà nổi tiếng cách đây hơn 500 năm được cách điệu theo mô hình lò nung gốm: Lò úp và lò ngửa có diện tích sử dụng rộng hơn 2.000m2.
Dulichgo
Cả một không gian rộng lớn trong 2 tòa nhà này là cả câu chuyện kể bằng hình ảnh, vật dụng, hiện vật… được kết nối suốt chiều dài 500 năm của làng gốm cổ. Theo lời Nguyên, đó là câu chuyện kể về đất sét và lửa mà chàng kiến trúc sư trẻ dồn cả tâm huyết cũng như tiền bạc tích góp dựng nên một công viên đất nung đầu tiên nơi đô thị cổ Hội An.
Nguyên kể rằng anh vẫn nhớ như in ngày đầu tiên sau 20 năm xa quê trở lại làng Nam Diêu gặp các cụ cao niên trong làng để xin xây dựng công viên văn hóa đất nung Thanh Hà. Đó là hành trình trở về cội nguồn mà ở đó là một “không gian – chỉ toàn là gốm, là đất nung” mà nói như các bậc cao niên của làng gốm cổ này thì đó là nơi cháu con hậu thế như Nguyên thỏa sức với đam mê đất và lửa để giữ làng nghề 500 năm.
Trong không gian rộng hơn 2.000 m2 của 2 tòa nhà kiến trúc cách điệu 2 lò nung gốm là cả một thế giới của đất, của lửa, của những thô mộc trăm năm trước. Những viên gạch đỏ au làm nên một không gian toàn màu của đất nâu, hay màu của đất sóng sánh cùng lửa – đỏ au. Cả thế giới của đất nung, của gốm sứ được tạo nên từ những bàn tay sần sùi, những bàn chân cong vẹo vì nhào nặn đất còn hằn in trong từng cuộc đời của các nghệ nhân làng gốm cổ này.
Dulichgo
Cụ bà Nguyễn Thị Được kể lại: “Dân làng ở đây bao đời sống chết đều nhờ vào cục đất sét. Nhờ có đất sét mà có sản phẩm góp mặt cho đời. Nhờ có những sản phẩm được nung qua lò úp, lò ngửa mà nuôi được con cái ăn học thành tài… Còn có đất sét là còn có đất sống…”.
Là người ngoại đạo, chẳng hiểu mô tê về kiến trúc, về xếp đặt nhưng khi đặt chân vào không gian của 2 tòa nhà thô mộc được xây dựng bằng gạch, gốm, đất nung và thân tre thô mộc tôi mới cảm nhận hồn cốt của làng gốm cổ 500 năm dâu bể.
Cả thế giới thu nhỏ Công viên Đất nung Thanh Hà sau hơn 4 năm xây dựng là nơi gìn giữ những nét đẹp của làng nghề 500 năm, là giấc mơ chung của những người con Thanh Hà. Gọi là công viên, nhưng đây là một không gian của một bảo tàng gốm sứ, là ngôi nhà chung của các nghệ sĩ từ khắp nơi hội tụ về thỏa ước mơ với đất và lửa để sáng tạo.
Dulichgo
Khu công viên Đất nung Thanh Hà khởi công từ tháng 7.2011 với kinh phí đầu tư 22 tỷ đồng. Năm hạng mục chính tại công viên bao gồm: khu bảo tàng gốm, khu trưng bày ngoài trời, khu làng nghề Nam Diêu, khu trại sáng tác, khu vực dịch vụ và xúc tiến thương mại.
Khu bảo tàng gốm trưng bày quá trình hình thành làng nghề gốm, các hiện vật liên quan đến quá trình phát triển của các làng nghề gốm…
Khu trưng bày ngoài trời gồm các tượng gốm lớn, cũng là không gian cảnh quan. Khu trưng bày các mô hình thu nhỏ của các di sản văn hóa Việt Nam và Thế giới như: khu Thành nội Huế, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Đô thị cổ Hội An. Các công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới như: kim tự tháp, đền Parthenon, Đấu trường Colosseum, Khải hoàn môn, tòa thánh Vatican…
Không gian Công viên Đất nung Thanh Hà đã tổ chức nhiều trại điêu khắc, sáng tác, triển lãm cho các nghệ sĩ trong và ngoài nước. Ông Roby Bellemans - Giám đốc điều hành công viên cho biết sau khi đi vào hoạt động, công viên sẽ có nhiều dự án trải nghiệm dành cho trẻ em và những người đam mê đất và lửa của nghề gốm cổ xưa.
Theo Vũ Trung (Vietnamnet)
Du lịch, GO!
Với những người lớn lên cùng nền văn minh lúa nước, nơi đây gợi nhớ nhiều ký ức về một thời đã qua. Còn với những ai yêu say cái sự tĩnh lặng, trầm mặc của một khung cảnh yên ả thanh bình, thì nơi đây là một điểm đến lý tưởng. Nơi đây là “Vườn xưa” ở xã Tú Sơn - huyện Kiến Thụy, là nơi mà “Ta - Người cộng cảm nỗi niềm chung”.
< Một góc nhà cổ nơi khách thưởng thức trà đạo bên ao súng.
Chủ nhân của “Vườn xưa” đã viết như thế trong lời đề tựa chào khách đến thăm quan khu vườn yên tĩnh của mình...
Vườn xưa lưu lại nét canh nông
Chia sẻ với đời những nhớ mong
Sương xuống trước vườn, ươm cỏ nội
Gió lùa sau vách, ngát hương đồng
Cuốc, cày, chồng chất mùa rơm rạ
Liềm, hái, ngổn ngang vụ gánh gồng
Khởi sắc Văn minh vùng lúa nước
Ta - Người cộng cảm nỗi niềm chung
Dulichgo
Đặt chân đến cổng “Vườn xưa”, bắt gặp lời đề tựa là mỗi người đã có thể hình dung đôi nét về không gian mà mình sắp khám phá.
Chủ nhân của khu vườn xây dựng lên nó để trải lòng mình qua từng vật dụng, từng khung cảnh. Để rồi mong muốn tìm được niềm đồng cảm từ những người khách ghé thăm. “Vườn xưa” chào đón khách đến thưởng ngoạn bất cứ lúc nào và không thu bất kỳ một loại phí nào.
Và chính anh đã viết về “Vườn xưa” bằng tất thảy nỗi niềm, cảm xúc mà mình đã gửi gắm khi cất công xây dựng nên khu vườn rộng hơn 1.000m2 này: “Một không gian nhỏ, khiêm tốn bên thôn trang trù phú có bốn mùa rau xanh và những cánh đồng lúa nước của miền quê duyên hải.
Vườn xưa mang sắc thái thuần Việt, lắng lòng trở về quá khứ, lưu giữ những công cụ gia điền ở lại cùng thời gian. Bản địa nơi đây có khí chất phong phú đầy tiềm năng, có truyền thống nhân văn cao cả, nền văn hóa đậm đà bản sắc, con người cần mẫn sáng tạo trong lao động…
Thừa kế vốn cổ, khu vườn này tái hiện sắc thái canh nông xưa để gửi gắm cho tương lai. Khuôn viên mang lối kiến trúc dân dã, gần gũi, mượn chất mộc mạc để phơi bày sức sống nội tâm, sắp đặt cho cỏ, đá phải sinh tình, trải lòng đón hương trong gió, nghiêng mình đón nắng ban mai. Vườn xưa chẳng lộng lẫy khác thường nhưng lay động nỗi niềm ký ức, nhuộm kín màu thời gian, bừng lên sự cộng cảm, là nơi chia sẻ của mỗi chúng ta mỗi lần trở về!”
Trong khuôn viên rộng hơn 1.000m2, khách đến chơi có thể tìm thấy ở “Vườn xưa” đủ những thứ vật dụng quen mà lạ. Quen với những ai đã từng một thời gắn bó với chúng, là những nông cụ gắn liền với hạt thóc, hạt gạo. Lạ với những ai mới chỉ được nghe kể mà chưa một lần được nhìn thấy trực tiếp, cho đến khi đặt chân đến khu vườn này. Về khung cảnh chung thì đây được ví như một ngôi làng thu nhỏ. “Làng trong làng” là điều mà mỗi người dễ dàng cảm nhận.
Dulichgo
Ẩn mình ở thôn Nãi Sơn, “Vườn xưa” mang một vẻ đẹp bình dị, yên ả đến lạ thường. Bước qua cánh cổng là một không gian xưa cũ, tái hiện đời sống của giai cấp bần cố nông ở đồng bằng Bắc Bộ trong xã hội Việt Nam thế kỷ trước.
Một chiếc cầu đá vắt qua hồ nước nhỏ đầy hoa súng tím, một căn nhà tranh lợp mái rạ, một cây đại 300 tuổi… là những điểm nhấn cho không gian xưa cũ nơi đây. Ban đầu chủ nhân của khu vườn có ý tưởng mô phỏng không gian nông thôn Việt Nam với đầy đủ các hình ảnh, hiện vật của 3 giai cấp: địa chủ, trung nông và bần cố nông, nhưng sau đó, trong khả năng của bản thân, anh quyết định chỉ gây dựng lại một ngôi nhà tranh vách đất của giai cấp bần cố nông xưa.
Trong căn nhà ấy có đầy đủ các loại vật dụng sinh hoạt từ thời xa xưa. Từ chiếc chõng tre, chiếc bồ đựng thóc, một chiếc chum to đến nồi chõ, cối giã gạo, gầu sòng…
Ngay cả những cái đĩa, cái bát ăn cơm cũ kỹ, xấu xí cũng được lưu giữ lại. Còn ở phía ngoài sân, chủ nhân ngôi vườn bày biện thêm nhiều nông cụ khác ở từng góc trưng bày. Là cái lưỡi cày, là đòn gánh với đôi thùng nước, là chiếc xế nước hay chiếc xe cút kít 1 bánh. “Vườn xưa” như trở thành một bảo tàng nông cụ thu nhỏ, hấp dẫn và hiếu kỳ đối với ai muốn tìm hiểu về nền văn minh lúa nước.
Dulichgo
Đôi dòng ý niệm của người làm nên bảo tàng ấy sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về ý nghĩa của những giá trị xưa cũ này: “Ngày nay, những công cụ đang bị mai một dần theo thời gian nên Vườn xưa gợi lại những hình ảnh canh tác của người trồng lúa thông qua văn minh vật chất và văn hóa nông nghiệp.
Những hiện vật không còn dùng trong nông nghiệp đã có mặt tại nơi đây là hình ảnh để Nay hiểu Xưa, giữ mối quan hệ Cũ và Mới cảm nhận tập quán trồng cây lúa từ xa xưa, giờ đã nâng lên thành một nền văn minh lúa nước.
Đó là sự kết tinh sáng tạo trong lao động sản xuất của người nông dân qua nhiều thế hệ. Nếp ở, nếp làm của người nông thôn xưa vốn làm nên bản sắc riêng của từng vùng quê Việt Nam “làm ruộng theo làng, bán hàng theo chợ”. Nông cụ được tạo ra để thể hiện hình thù rất đặc trưng, tác động trực tiếp công việc, rút ngắn thời gian nhọc nhằn, thô sơ nhưng thân thiện với môi trường, ấm áp hơi người lại co sức mạnh trước thiên nhiên”.
Hoàn thành sau chưa đầy một năm xây dựng, mọi thiết kế về khu vườn đều do chính người ấp ủ ý tưởng tự tay làm nên. Từ sự am hiểu về kiến trúc và văn hóa, anh đã tạo dựng, sắp đặt nên một không gian giàu ý nghĩa cả về lịch sử và văn hóa tín ngưỡng. Ở đó, hiện tại và quá khứ như giao hòa, nối tiếp.
Khách đến với “Vườn xưa” được tự do khám phá, trải nghiệm sự thú vị ở đây. Và mỗi nơi, mỗi góc của khu vườn đều khiến bước chân mỗi người phải dừng lại. Để rồi, ấn tượng về “Vườn xưa”, về không gian “làng trong làng” ấy sẽ còn đọng mãi.
Theo Huyền Trâm (An Ninh Hải Phòng)
Du lịch, GO!
< Một góc nhà cổ nơi khách thưởng thức trà đạo bên ao súng.
Chủ nhân của “Vườn xưa” đã viết như thế trong lời đề tựa chào khách đến thăm quan khu vườn yên tĩnh của mình...
Vườn xưa lưu lại nét canh nông
Chia sẻ với đời những nhớ mong
Sương xuống trước vườn, ươm cỏ nội
Gió lùa sau vách, ngát hương đồng
Cuốc, cày, chồng chất mùa rơm rạ
Liềm, hái, ngổn ngang vụ gánh gồng
Khởi sắc Văn minh vùng lúa nước
Ta - Người cộng cảm nỗi niềm chung
Dulichgo
Đặt chân đến cổng “Vườn xưa”, bắt gặp lời đề tựa là mỗi người đã có thể hình dung đôi nét về không gian mà mình sắp khám phá.
Chủ nhân của khu vườn xây dựng lên nó để trải lòng mình qua từng vật dụng, từng khung cảnh. Để rồi mong muốn tìm được niềm đồng cảm từ những người khách ghé thăm. “Vườn xưa” chào đón khách đến thưởng ngoạn bất cứ lúc nào và không thu bất kỳ một loại phí nào.
Và chính anh đã viết về “Vườn xưa” bằng tất thảy nỗi niềm, cảm xúc mà mình đã gửi gắm khi cất công xây dựng nên khu vườn rộng hơn 1.000m2 này: “Một không gian nhỏ, khiêm tốn bên thôn trang trù phú có bốn mùa rau xanh và những cánh đồng lúa nước của miền quê duyên hải.
Vườn xưa mang sắc thái thuần Việt, lắng lòng trở về quá khứ, lưu giữ những công cụ gia điền ở lại cùng thời gian. Bản địa nơi đây có khí chất phong phú đầy tiềm năng, có truyền thống nhân văn cao cả, nền văn hóa đậm đà bản sắc, con người cần mẫn sáng tạo trong lao động…
Thừa kế vốn cổ, khu vườn này tái hiện sắc thái canh nông xưa để gửi gắm cho tương lai. Khuôn viên mang lối kiến trúc dân dã, gần gũi, mượn chất mộc mạc để phơi bày sức sống nội tâm, sắp đặt cho cỏ, đá phải sinh tình, trải lòng đón hương trong gió, nghiêng mình đón nắng ban mai. Vườn xưa chẳng lộng lẫy khác thường nhưng lay động nỗi niềm ký ức, nhuộm kín màu thời gian, bừng lên sự cộng cảm, là nơi chia sẻ của mỗi chúng ta mỗi lần trở về!”
Trong khuôn viên rộng hơn 1.000m2, khách đến chơi có thể tìm thấy ở “Vườn xưa” đủ những thứ vật dụng quen mà lạ. Quen với những ai đã từng một thời gắn bó với chúng, là những nông cụ gắn liền với hạt thóc, hạt gạo. Lạ với những ai mới chỉ được nghe kể mà chưa một lần được nhìn thấy trực tiếp, cho đến khi đặt chân đến khu vườn này. Về khung cảnh chung thì đây được ví như một ngôi làng thu nhỏ. “Làng trong làng” là điều mà mỗi người dễ dàng cảm nhận.
Dulichgo
Ẩn mình ở thôn Nãi Sơn, “Vườn xưa” mang một vẻ đẹp bình dị, yên ả đến lạ thường. Bước qua cánh cổng là một không gian xưa cũ, tái hiện đời sống của giai cấp bần cố nông ở đồng bằng Bắc Bộ trong xã hội Việt Nam thế kỷ trước.
Một chiếc cầu đá vắt qua hồ nước nhỏ đầy hoa súng tím, một căn nhà tranh lợp mái rạ, một cây đại 300 tuổi… là những điểm nhấn cho không gian xưa cũ nơi đây. Ban đầu chủ nhân của khu vườn có ý tưởng mô phỏng không gian nông thôn Việt Nam với đầy đủ các hình ảnh, hiện vật của 3 giai cấp: địa chủ, trung nông và bần cố nông, nhưng sau đó, trong khả năng của bản thân, anh quyết định chỉ gây dựng lại một ngôi nhà tranh vách đất của giai cấp bần cố nông xưa.
Trong căn nhà ấy có đầy đủ các loại vật dụng sinh hoạt từ thời xa xưa. Từ chiếc chõng tre, chiếc bồ đựng thóc, một chiếc chum to đến nồi chõ, cối giã gạo, gầu sòng…
Ngay cả những cái đĩa, cái bát ăn cơm cũ kỹ, xấu xí cũng được lưu giữ lại. Còn ở phía ngoài sân, chủ nhân ngôi vườn bày biện thêm nhiều nông cụ khác ở từng góc trưng bày. Là cái lưỡi cày, là đòn gánh với đôi thùng nước, là chiếc xế nước hay chiếc xe cút kít 1 bánh. “Vườn xưa” như trở thành một bảo tàng nông cụ thu nhỏ, hấp dẫn và hiếu kỳ đối với ai muốn tìm hiểu về nền văn minh lúa nước.
Dulichgo
Đôi dòng ý niệm của người làm nên bảo tàng ấy sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về ý nghĩa của những giá trị xưa cũ này: “Ngày nay, những công cụ đang bị mai một dần theo thời gian nên Vườn xưa gợi lại những hình ảnh canh tác của người trồng lúa thông qua văn minh vật chất và văn hóa nông nghiệp.
Những hiện vật không còn dùng trong nông nghiệp đã có mặt tại nơi đây là hình ảnh để Nay hiểu Xưa, giữ mối quan hệ Cũ và Mới cảm nhận tập quán trồng cây lúa từ xa xưa, giờ đã nâng lên thành một nền văn minh lúa nước.
Đó là sự kết tinh sáng tạo trong lao động sản xuất của người nông dân qua nhiều thế hệ. Nếp ở, nếp làm của người nông thôn xưa vốn làm nên bản sắc riêng của từng vùng quê Việt Nam “làm ruộng theo làng, bán hàng theo chợ”. Nông cụ được tạo ra để thể hiện hình thù rất đặc trưng, tác động trực tiếp công việc, rút ngắn thời gian nhọc nhằn, thô sơ nhưng thân thiện với môi trường, ấm áp hơi người lại co sức mạnh trước thiên nhiên”.
Hoàn thành sau chưa đầy một năm xây dựng, mọi thiết kế về khu vườn đều do chính người ấp ủ ý tưởng tự tay làm nên. Từ sự am hiểu về kiến trúc và văn hóa, anh đã tạo dựng, sắp đặt nên một không gian giàu ý nghĩa cả về lịch sử và văn hóa tín ngưỡng. Ở đó, hiện tại và quá khứ như giao hòa, nối tiếp.
Khách đến với “Vườn xưa” được tự do khám phá, trải nghiệm sự thú vị ở đây. Và mỗi nơi, mỗi góc của khu vườn đều khiến bước chân mỗi người phải dừng lại. Để rồi, ấn tượng về “Vườn xưa”, về không gian “làng trong làng” ấy sẽ còn đọng mãi.
Theo Huyền Trâm (An Ninh Hải Phòng)
Du lịch, GO!
(ĐTCK) - Giới trẻ bây giờ thích đến resort 5 sao hay đi du lịch nước ngoài, những điểm du lịch về nguồn thưa thớt, hầu như toàn ông già bà cả. Chẳng biết vì lũ trẻ thích sống vội, hay là tại những địa điểm hành hương ấy quá lèo tèo dịch vụ và nhạt nhòa trong quảng bá???
Vào TP. HCM đã không ít lần và mặc dù rất muốn, nhưng tôi không đi được nhiều di tích lịch sử cách mạng. Thì bạn bè ai cũng tưởng là mình đã biết cả, cần gì phải xem, cần gì phải ngó. Chưa kịp đi đâu, bạn đã đón trước cổng sân bay, rồi họp hành, tiệc tùng… và mình cũng ngại làm phiền nên bao nhiêu dự định thăm thú đều dở dang.
Có một khu di tích nghe tên là lạ, đã dự định mấy lần mà chưa đi được, đó là Hóc Môn - Bà Điểm, 18 thôn Vườn Trầu. Loáng thoáng biết rằng đó là một di tích cách mạng nổi tiếng, nhưng cũng không tỏ tường. Lần này tôi quyết định tự một mình đi đến tận nơi.
Hỏi con gái đang làm việc cho một DN Canada tại TP. HCM, cháu chẳng biết ở đâu. Hỏi bạn là anh Đặng Sĩ Hảo, nguyên Phó giám đốc Công ty Than Miền Nam, anh bảo đại khái 18 thôn Vườn Trầu xa lắm, đến Hóc Môn - Bà Điểm phải ba bốn chục cây số. Tôi hỏi tổng đài 1080, người ta chỉ dẫn đi xe bus 54 về Chợ Lớn rồi tiếp tuyến xe bus 23 về Hóc Môn.
Dulichgo
9h sáng, xe bus Sài Gòn đông nhưng trật tự. Tôi hỏi một cháu quàng khăn đỏ:
- 18 thôn Vườn Trầu ở đâu cháu? Cháu trả lời tôi: - Cháu không biết ạ.
Tôi cụt hứng. Cháu bé đang còn mải xem Ipad.
Không thoái chí, tôi quay sang một cháu sinh viên năm thứ 3 Đại học Khoa học xã hội nhân văn TP. HCM hỏi về Hóc Môn - Bà Điểm, về 18 thôn Vườn Trầu. Cháu thực thà bảo chỉ biết huyện Hóc Môn cách TP. HCM 30 cây số, nhưng 18 thôn Vườn Trầu thì chịu…
< Khu di tích Ngã ba Giồng.
Lòng thắc mắc, tại sao một địa điểm chỉ cách nội đô vài ba chục cây mà không ai tỏ tường, lại sốt ruột vì đầu giờ chiều đã trót có cuộc hẹn quan trọng. Nhìn thấy vẻ mặt bần thần của tôi, anh phụ xe bus bảo không biết 18 thôn Vườn Trầu là gì, nhưng ở Ngã Ba Giồng có một khu di tích rất lớn. “Bác cứ xuống đó rồi có gì thì hỏi thêm”, anh phụ xe tốt bụng nói.
Xuống Ngã Ba Giồng đã 11 giờ trưa. Trước mặt tôi là một khu di tích khá lớn, không hiểu có liên quan gì đến cái địa danh 18 thôn Vườn Trầu đang tìm đến… Chỉ có điều sao ngày Chủ nhật cao điểm đón khách thăm quan mà cổng phụ 1 đóng cửa, cổng phụ 2 đóng cửa, cổng phụ 3 thì… không mở.
Ở cổng chính đề chữ rất to “Di tích Ngã Ba Giồng”. Hóa ra đó là một khu di tích lịch sử về hoạt động của các chiến sĩ cách mạng. Những tượng đài lồng lộng giữa trời xanh, bia đá ghi danh những anh hùng lịch sử từ thời khởi nghĩa Nam Bộ. Uy nghi là thế, nhưng ở cổng chính cũng chỉ có mỗi một anh xe ôm gà gật, nghe chừng đã lâu không có khách.
< Tượng đài ở Khu di tích ngã ba Giồng - Hóc Môn.
Nghe tiếng người hỏi, anh giật mình tỉnh dậy, đưa tôi đến khu tiếp đón. Vừa than thở rằng “khu di tích vắng khách lắm bác ạ”, Giám đốc vừa gọi cho một nữ nhân viên, yêu cầu đưa tôi dạo một vòng quanh khu di tích.
Dulichgo
Hóa ra nơi đây đã từng tồn tại địa danh 18 thôn Vườn Trầu mà tôi đang tìm. Cô tiếp viên kể, nghe đời trước truyền lại, 18 thôn Vườn Trầu xưa từng có cảnh trí hoang sơn, cỏ cây rậm rạp, "ông ba mươi" đi trên đường làng giữa ban ngày, còn ban đêm thì thả sức tung hoành quấy phá, bởi vậy mới có câu truyền miệng "dữ như hổ 18 thôn Vườn Trầu".
Bà con sinh sống lâu đời ở đây coi trồng trầu là một nghề ăn nên làm ra. Do vậy mà vườn nhà nọ nối với vườn nhà kia bằng một màu xanh bất tận của cây trầu. Nghề nuôi ngựa, nuôi gà chọi cũng là một trong những nghề nổi tiếng ở đây. Buổi đầu Pháp xâm chiếm Nam Bộ, giữa Tết năm Ất Dậu (1885), nhân dân 18 Thôn vườn trầu đã nổi dậy, khởi nghĩa giết đốc phủ Ca, một tên tay sai gian ác, rồi kéo quân vào Sài Gòn....
Năm 1930 khi Ðảng Cộng sản Ðông Dương ra đời thì 18 thôn Vườn Trầu được chọn làm hậu cứ, nơi nuôi dưỡng các cán bộ lãnh đạo, cất dấu tài liệu bí mật của Ðảng. Trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhiều chiến sĩ cách mạng kiệt xuất như Nguyễn Văn Cừ, Phan Ðăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn... đã được bảo vệ, nuôi dấu ở đây.
Cũng tại 18 thôn Vườn Trầu, tại Khu di tích Ngã Ba Giồng này là nơi thực dân Pháp đã bắt và xử bắn 903 chiến sĩ yêu nước tham gia kháng chiến chống Pháp. Trong khuôn viên khu di tích là những hiện vật, hình ảnh lịch sử về những con người, vùng đất của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940. Vậy mà bây giờ, di tích đồ sộ, giàu truyền thống không mấy người biết đến. Một cảm giác buồn, man mác dâng lên trong tôi, như nhớ nhung, như nuối tiếc…
Cô hướng dẫn viên đưa tôi đến gặp người trồng trầu và là người thiết kế lại sơ đồ 18 thôn Vườn Trầu.
- Bọn cháu vẫn gọi bác ấy là nghệ nhân trồng trầu đấy ạ.
Tôi hỏi tên, bác bảo “cứ gọi tôi là người trồng trầu” rồi thủng thẳng kể bằng giọng đặc sệt Nam Bộ: tôi thiết kế, chọn giống trầu, ươm trồng 18 khu trồng giầu trong khu di tích này, tượng trưng cho 18 thôn ngày xưa. Cũng là cho đỡ nhớ nghề. Dân Hóc Môn - Bà Điểm giờ chẳng mấy ai trồng trầu vì hiệu quả kinh tế thấp. Thời nay có mấy ai ăn trầu đâu anh.
Dulichgo
- Nhưng nơi đây là một di tích cách mạng lẫy lừng, sao không quảng bá mà lại để vắng vẻ thế ạ? - Tôi hỏi.
- Chuyện đấy thì phải hỏi mấy ông ở trên chứ. Hồi trước, dân ở đây cũng hy vọng lắm. Họ mơ nơi đây sẽ có một địa điểm du lịch để lại tiếp tục trồng trầu, thế nhưng... 18 thôn Vườn Trầu đã hết trầu mà cái tên địa danh cũng dần mất rồi!
Được biết, hơn chục năm trước, chính quyền địa phương cùng các ngành chức năng đã đánh tiếng với Sở Du lịch và được đơn vị này hỗ trợ bằng cách mời các công ty, DN ngành du lịch đến khảo sát để tính toán khả năng đầu tư, quy hoạch lại 18 thôn vườn trầu.
Thế nhưng, có hơn 10 DN đến rồi lặng lẽ ra đi. DN thì đổ cho địa phương không chịu đầu tư hạ tầng, đầu tư cho người dân khôi phục vườn trầu, người dân phá trầu đi xây nhà trọ kiếm lời khá hơn. Còn địa phương lại bảo, các công ty du lịch chỉ muốn cái gì cũng “muốn được dọn sẵn ra mâm mà không tự tay vào bếp chế biến”.
< Những vườn cau ít ỏi còn lại sau đô thị hóa ở Bà Điểm.
Dulichgo
Một mình tôi đi dạo giữa công viên khu di tích, mải suy nghĩ mà quên mất cuộc hẹn đầu giờ chiều. Di tích Ngã Ba Giồng, 18 thôn Vườn Trầu! Nổi tiếng thế, hoành tráng thế, cách trung tâm TP. HCM chưa đầy 30 km mà sao nhiều người không biết? Tôi đi xe bus mất 2 tiếng là quá chậm. Bọn trẻ bây giờ chỉ thích đi Khu du lịch Đầm Sen, Khu du lịch Suối tiên, Khu du lịch Đại Nam… ai đến Ngã Ba Giồng?
Mà không chỉ có Ngã Ba Giồng, ở Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, ở nhà tù Côn Đảo, vẫn chỉ thấy đa số là những mái đầu bạc và… khách nước ngoài. Tháp tùng bố đi Côn Đảo về, con gái tôi bảo, “từ lần sau con không muốn xem tiếp những cảnh tra tấn rợn người, máu chảy đầu rơi thế này đâu, sợ lắm”.
Có chút giận con, nhưng rồi lại nghĩ: Phải làm sao để các chuyến du lịch về nguồn không trở nên khô cứng và đơn điệu? Làm sao thu hút khách du lịch trẻ đi tìm hiểu thực sự chứ không vì nghĩa vụ hay phong trào? Những câu hỏi cứ vấn vương trong đầu tôi suốt cả chuyến bay ra Hà Nội và vẫn còn ám ảnh đến tận bây giờ.
Theo Lê Tuấn Lộc (Báo Đầu tư Chứng Khoán)
Du lịch, GO!
Vào TP. HCM đã không ít lần và mặc dù rất muốn, nhưng tôi không đi được nhiều di tích lịch sử cách mạng. Thì bạn bè ai cũng tưởng là mình đã biết cả, cần gì phải xem, cần gì phải ngó. Chưa kịp đi đâu, bạn đã đón trước cổng sân bay, rồi họp hành, tiệc tùng… và mình cũng ngại làm phiền nên bao nhiêu dự định thăm thú đều dở dang.
Có một khu di tích nghe tên là lạ, đã dự định mấy lần mà chưa đi được, đó là Hóc Môn - Bà Điểm, 18 thôn Vườn Trầu. Loáng thoáng biết rằng đó là một di tích cách mạng nổi tiếng, nhưng cũng không tỏ tường. Lần này tôi quyết định tự một mình đi đến tận nơi.
Hỏi con gái đang làm việc cho một DN Canada tại TP. HCM, cháu chẳng biết ở đâu. Hỏi bạn là anh Đặng Sĩ Hảo, nguyên Phó giám đốc Công ty Than Miền Nam, anh bảo đại khái 18 thôn Vườn Trầu xa lắm, đến Hóc Môn - Bà Điểm phải ba bốn chục cây số. Tôi hỏi tổng đài 1080, người ta chỉ dẫn đi xe bus 54 về Chợ Lớn rồi tiếp tuyến xe bus 23 về Hóc Môn.
Dulichgo
9h sáng, xe bus Sài Gòn đông nhưng trật tự. Tôi hỏi một cháu quàng khăn đỏ:
- 18 thôn Vườn Trầu ở đâu cháu? Cháu trả lời tôi: - Cháu không biết ạ.
Tôi cụt hứng. Cháu bé đang còn mải xem Ipad.
Không thoái chí, tôi quay sang một cháu sinh viên năm thứ 3 Đại học Khoa học xã hội nhân văn TP. HCM hỏi về Hóc Môn - Bà Điểm, về 18 thôn Vườn Trầu. Cháu thực thà bảo chỉ biết huyện Hóc Môn cách TP. HCM 30 cây số, nhưng 18 thôn Vườn Trầu thì chịu…
< Khu di tích Ngã ba Giồng.Lòng thắc mắc, tại sao một địa điểm chỉ cách nội đô vài ba chục cây mà không ai tỏ tường, lại sốt ruột vì đầu giờ chiều đã trót có cuộc hẹn quan trọng. Nhìn thấy vẻ mặt bần thần của tôi, anh phụ xe bus bảo không biết 18 thôn Vườn Trầu là gì, nhưng ở Ngã Ba Giồng có một khu di tích rất lớn. “Bác cứ xuống đó rồi có gì thì hỏi thêm”, anh phụ xe tốt bụng nói.
Xuống Ngã Ba Giồng đã 11 giờ trưa. Trước mặt tôi là một khu di tích khá lớn, không hiểu có liên quan gì đến cái địa danh 18 thôn Vườn Trầu đang tìm đến… Chỉ có điều sao ngày Chủ nhật cao điểm đón khách thăm quan mà cổng phụ 1 đóng cửa, cổng phụ 2 đóng cửa, cổng phụ 3 thì… không mở.
Ở cổng chính đề chữ rất to “Di tích Ngã Ba Giồng”. Hóa ra đó là một khu di tích lịch sử về hoạt động của các chiến sĩ cách mạng. Những tượng đài lồng lộng giữa trời xanh, bia đá ghi danh những anh hùng lịch sử từ thời khởi nghĩa Nam Bộ. Uy nghi là thế, nhưng ở cổng chính cũng chỉ có mỗi một anh xe ôm gà gật, nghe chừng đã lâu không có khách.
< Tượng đài ở Khu di tích ngã ba Giồng - Hóc Môn.
Nghe tiếng người hỏi, anh giật mình tỉnh dậy, đưa tôi đến khu tiếp đón. Vừa than thở rằng “khu di tích vắng khách lắm bác ạ”, Giám đốc vừa gọi cho một nữ nhân viên, yêu cầu đưa tôi dạo một vòng quanh khu di tích.
Dulichgo
Hóa ra nơi đây đã từng tồn tại địa danh 18 thôn Vườn Trầu mà tôi đang tìm. Cô tiếp viên kể, nghe đời trước truyền lại, 18 thôn Vườn Trầu xưa từng có cảnh trí hoang sơn, cỏ cây rậm rạp, "ông ba mươi" đi trên đường làng giữa ban ngày, còn ban đêm thì thả sức tung hoành quấy phá, bởi vậy mới có câu truyền miệng "dữ như hổ 18 thôn Vườn Trầu".
Bà con sinh sống lâu đời ở đây coi trồng trầu là một nghề ăn nên làm ra. Do vậy mà vườn nhà nọ nối với vườn nhà kia bằng một màu xanh bất tận của cây trầu. Nghề nuôi ngựa, nuôi gà chọi cũng là một trong những nghề nổi tiếng ở đây. Buổi đầu Pháp xâm chiếm Nam Bộ, giữa Tết năm Ất Dậu (1885), nhân dân 18 Thôn vườn trầu đã nổi dậy, khởi nghĩa giết đốc phủ Ca, một tên tay sai gian ác, rồi kéo quân vào Sài Gòn....
Năm 1930 khi Ðảng Cộng sản Ðông Dương ra đời thì 18 thôn Vườn Trầu được chọn làm hậu cứ, nơi nuôi dưỡng các cán bộ lãnh đạo, cất dấu tài liệu bí mật của Ðảng. Trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhiều chiến sĩ cách mạng kiệt xuất như Nguyễn Văn Cừ, Phan Ðăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn... đã được bảo vệ, nuôi dấu ở đây.
Cũng tại 18 thôn Vườn Trầu, tại Khu di tích Ngã Ba Giồng này là nơi thực dân Pháp đã bắt và xử bắn 903 chiến sĩ yêu nước tham gia kháng chiến chống Pháp. Trong khuôn viên khu di tích là những hiện vật, hình ảnh lịch sử về những con người, vùng đất của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940. Vậy mà bây giờ, di tích đồ sộ, giàu truyền thống không mấy người biết đến. Một cảm giác buồn, man mác dâng lên trong tôi, như nhớ nhung, như nuối tiếc…
Cô hướng dẫn viên đưa tôi đến gặp người trồng trầu và là người thiết kế lại sơ đồ 18 thôn Vườn Trầu.
- Bọn cháu vẫn gọi bác ấy là nghệ nhân trồng trầu đấy ạ.
Tôi hỏi tên, bác bảo “cứ gọi tôi là người trồng trầu” rồi thủng thẳng kể bằng giọng đặc sệt Nam Bộ: tôi thiết kế, chọn giống trầu, ươm trồng 18 khu trồng giầu trong khu di tích này, tượng trưng cho 18 thôn ngày xưa. Cũng là cho đỡ nhớ nghề. Dân Hóc Môn - Bà Điểm giờ chẳng mấy ai trồng trầu vì hiệu quả kinh tế thấp. Thời nay có mấy ai ăn trầu đâu anh.
Dulichgo
- Nhưng nơi đây là một di tích cách mạng lẫy lừng, sao không quảng bá mà lại để vắng vẻ thế ạ? - Tôi hỏi.
- Chuyện đấy thì phải hỏi mấy ông ở trên chứ. Hồi trước, dân ở đây cũng hy vọng lắm. Họ mơ nơi đây sẽ có một địa điểm du lịch để lại tiếp tục trồng trầu, thế nhưng... 18 thôn Vườn Trầu đã hết trầu mà cái tên địa danh cũng dần mất rồi!
Được biết, hơn chục năm trước, chính quyền địa phương cùng các ngành chức năng đã đánh tiếng với Sở Du lịch và được đơn vị này hỗ trợ bằng cách mời các công ty, DN ngành du lịch đến khảo sát để tính toán khả năng đầu tư, quy hoạch lại 18 thôn vườn trầu.
Thế nhưng, có hơn 10 DN đến rồi lặng lẽ ra đi. DN thì đổ cho địa phương không chịu đầu tư hạ tầng, đầu tư cho người dân khôi phục vườn trầu, người dân phá trầu đi xây nhà trọ kiếm lời khá hơn. Còn địa phương lại bảo, các công ty du lịch chỉ muốn cái gì cũng “muốn được dọn sẵn ra mâm mà không tự tay vào bếp chế biến”.
< Những vườn cau ít ỏi còn lại sau đô thị hóa ở Bà Điểm.Dulichgo
Một mình tôi đi dạo giữa công viên khu di tích, mải suy nghĩ mà quên mất cuộc hẹn đầu giờ chiều. Di tích Ngã Ba Giồng, 18 thôn Vườn Trầu! Nổi tiếng thế, hoành tráng thế, cách trung tâm TP. HCM chưa đầy 30 km mà sao nhiều người không biết? Tôi đi xe bus mất 2 tiếng là quá chậm. Bọn trẻ bây giờ chỉ thích đi Khu du lịch Đầm Sen, Khu du lịch Suối tiên, Khu du lịch Đại Nam… ai đến Ngã Ba Giồng?
Mà không chỉ có Ngã Ba Giồng, ở Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, ở nhà tù Côn Đảo, vẫn chỉ thấy đa số là những mái đầu bạc và… khách nước ngoài. Tháp tùng bố đi Côn Đảo về, con gái tôi bảo, “từ lần sau con không muốn xem tiếp những cảnh tra tấn rợn người, máu chảy đầu rơi thế này đâu, sợ lắm”.
Có chút giận con, nhưng rồi lại nghĩ: Phải làm sao để các chuyến du lịch về nguồn không trở nên khô cứng và đơn điệu? Làm sao thu hút khách du lịch trẻ đi tìm hiểu thực sự chứ không vì nghĩa vụ hay phong trào? Những câu hỏi cứ vấn vương trong đầu tôi suốt cả chuyến bay ra Hà Nội và vẫn còn ám ảnh đến tận bây giờ.
Theo Lê Tuấn Lộc (Báo Đầu tư Chứng Khoán)
Du lịch, GO!
(VTC News) - Hình ảnh 36 phố phường với những nếp nhà ngói đỏ san sát, những gánh hàng hoa, những chiếc xích lô, tiếng tàu điện leng keng… của một Hà Nội xưa được tái dựng trong chương trình “Ký ức Hà Nội”.
Từ ngày 30/12/2015 đến 4/1/2016, Sở Du lịch Hà Nội cùng Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội và Công ty Cổ phần Truyền thông DC phối hợp triển khai thực hiện chương trình “Ký ức Hà Nội” nhằm tái hiện hình ảnh Hà Nội xưa với đông đảo người dân thủ đô, du khách trong nước và quốc tế tại khu Di sản Văn hóa Thế giới - Hoàng thành Thăng Long Hà Nội.
Sự kiện được tổ chức nhằm tiễn năm cũ, chào đón năm mới 2016, tại đây những nét tiêu biểu của Hà Nội xưa được tái hiện lại với những di tích, danh thắng, cảnh phố phường Hà Nội xưa với làng nghề, phố nghề.
Không chỉ có những dãy phố cổ mà các bối cảnh sinh hoạt của cuộc sống người Hà Nội xưa cũng được tái hiện như quán nước vỉa hè, tiệm sách cũ, quán cắt tóc hay những gánh hàng rong bán đầy quà vặt…
Quán nước vỉa hè gắn liền với đời sống những người dân lao động. Quán nước chỉ có trà mạn, nước vối, ít thuốc lào, vài ba thứ bánh lá như bánh nếp, bánh tẻ hoặc ít kẹo bột, kẹo dồi chó...
Những thương hiệu như thuốc lá Sông Cầu, Sapa, Du Lịch… đã trở nên quá đỗi quen thuộc với người dân thời bao cấp.
Bà Phạm Xuân Thu (78 tuổi) với hơn 50 năm làm nghề thợ cắt tóc ở phố cổ. Bà là một trong số ít người phụ nữ làm nghề cắt tóc vỉa hè. Không chỉ cắt tóc mà bà còn kể những câu chuyện thú vị về cuộc sống cho khách hàng nghe...
Khách của bà gồm có ta, có tây, già, trẻ, tất cả đều thích thú với trải nghiệm vừa được nghe bà cắt tóc, vừa nghe diễn giải những châm ngôn trong cuộc sống được bà đúc rút từ hơn 50 năm cầm kéo cắt tóc cho thiên hạ.
Chính điều đặc biệt này mà hình ảnh của bà trở thành một phần độc đáo trong nhịp sống thường ngày của phố cổ Hà Nội.
Một nét rất riêng, rất đặc biệt của đường phố Hà Nội xưa, đó là tiếng tàu điện leng keng. Ai đi xa, khi nhớ về Hà Nội đều phải nhắc đến nó như một cái gì đó rất đặc trưng, không bao giờ phai nhạt trong ký ức.
Hàng sách cũ với những cuốn sách dù đã phủ bụi theo thời gian nhưng được chủ nhân bảo quản cẩn thận.
Đặc biệt, du khách sẽ được tìm lại ký ức về bia mậu dịch thời bao cấp qua không gian ẩm thực bên trong Hoàng thành.
Với nhiều người cao tuổi ở Hà Nội, những gánh hàng hoa đã trở thành một hình ảnh quen thuộc.
Một khu vực tái hiện lại không gian làng quê ven đô với cổng làng, bờ ao, mái đình…
Đến với triển lãm chủ yếu là người già, người cao tuổi, họ tới để trải nghiệm lại không khí, nếp sống chậm rãi và bình yên của ký ức Hà Nội xưa cũ.
Theo Việy Linh (VTC NEW)
Du lịch, GO!
Từ ngày 30/12/2015 đến 4/1/2016, Sở Du lịch Hà Nội cùng Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội và Công ty Cổ phần Truyền thông DC phối hợp triển khai thực hiện chương trình “Ký ức Hà Nội” nhằm tái hiện hình ảnh Hà Nội xưa với đông đảo người dân thủ đô, du khách trong nước và quốc tế tại khu Di sản Văn hóa Thế giới - Hoàng thành Thăng Long Hà Nội.
Sự kiện được tổ chức nhằm tiễn năm cũ, chào đón năm mới 2016, tại đây những nét tiêu biểu của Hà Nội xưa được tái hiện lại với những di tích, danh thắng, cảnh phố phường Hà Nội xưa với làng nghề, phố nghề.
Không chỉ có những dãy phố cổ mà các bối cảnh sinh hoạt của cuộc sống người Hà Nội xưa cũng được tái hiện như quán nước vỉa hè, tiệm sách cũ, quán cắt tóc hay những gánh hàng rong bán đầy quà vặt…
Quán nước vỉa hè gắn liền với đời sống những người dân lao động. Quán nước chỉ có trà mạn, nước vối, ít thuốc lào, vài ba thứ bánh lá như bánh nếp, bánh tẻ hoặc ít kẹo bột, kẹo dồi chó...
Những thương hiệu như thuốc lá Sông Cầu, Sapa, Du Lịch… đã trở nên quá đỗi quen thuộc với người dân thời bao cấp.
Bà Phạm Xuân Thu (78 tuổi) với hơn 50 năm làm nghề thợ cắt tóc ở phố cổ. Bà là một trong số ít người phụ nữ làm nghề cắt tóc vỉa hè. Không chỉ cắt tóc mà bà còn kể những câu chuyện thú vị về cuộc sống cho khách hàng nghe...
Khách của bà gồm có ta, có tây, già, trẻ, tất cả đều thích thú với trải nghiệm vừa được nghe bà cắt tóc, vừa nghe diễn giải những châm ngôn trong cuộc sống được bà đúc rút từ hơn 50 năm cầm kéo cắt tóc cho thiên hạ.
Chính điều đặc biệt này mà hình ảnh của bà trở thành một phần độc đáo trong nhịp sống thường ngày của phố cổ Hà Nội.
Một nét rất riêng, rất đặc biệt của đường phố Hà Nội xưa, đó là tiếng tàu điện leng keng. Ai đi xa, khi nhớ về Hà Nội đều phải nhắc đến nó như một cái gì đó rất đặc trưng, không bao giờ phai nhạt trong ký ức.
Hàng sách cũ với những cuốn sách dù đã phủ bụi theo thời gian nhưng được chủ nhân bảo quản cẩn thận.
Đặc biệt, du khách sẽ được tìm lại ký ức về bia mậu dịch thời bao cấp qua không gian ẩm thực bên trong Hoàng thành.
Với nhiều người cao tuổi ở Hà Nội, những gánh hàng hoa đã trở thành một hình ảnh quen thuộc.
Một khu vực tái hiện lại không gian làng quê ven đô với cổng làng, bờ ao, mái đình…
Đến với triển lãm chủ yếu là người già, người cao tuổi, họ tới để trải nghiệm lại không khí, nếp sống chậm rãi và bình yên của ký ức Hà Nội xưa cũ.
Theo Việy Linh (VTC NEW)
Du lịch, GO!
Popular Posts
-
Về quê hương Đồng Khởi, đón gió biển hoang sơ(DVO) - N hững ngày nghỉ lễ cuối tháng 4 là thời điểm du khách tìm đến những địa điểm tham quan du lịch để thư giãn, nghỉ ngơi, giải trí. N...
-
TP.HCM tổ chức 128 chợ hoa tếtC hợ Hoa tết là hoạt động truyền thống, là nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc của người dân TP.HCM. Đây là dịp giao lưu giữa các nhà vườn, nghệ n...
-
Tép bạc miền Tây Nam BộC a dao có câu 'Buổi chợ đương đông con cá lòng tong còn chê lạt/ Buổi chợ tan rồi con tép bạc khen ngon'; đây chỉ là cách chơi chữ ...
-
Chín cửa sông Cửu Long(ATC) - Đ ại trường giang Mê Kông chảy vào đất Việt rồi đổ ra biển lớn bằng chín cửa sông Cửu Long như chín con rồng uốn lượn. < Lộ trình...
-
Chinh phục nóc nhà Pu Si LungP u Si Lung (3.076m) là khối núi nằm ở tây bắc tỉnh Lai Châu, giữa Sông Đà và thượng nguồn sông Nậm Na (phụ lưu tả ngạn Sông Đà) tại biên gi...
-
Mưa rừng Đà Bắc(iHay) - M ột chiều Hà Nội, khi cơn mưa nhỏ bắt đầu rơi nhanh trên thành phố, chúng tôi ngược về một nơi không xa, đi đón cơn mưa ở một vùng...
-
Viếng thăm Đền Nội Lâm ở Ninh BìnhT rong hành trình thăm Tràng An ở Ninh Bình, đền Nội Lâm (đền Trần) làm chủ yếu bằng đá xanh nguyên khối với nhiều hoa văn chạm nổi là điể...
-
Thăm Vĩnh Hy, kinh ngạc với bánh xèo...(CPN) - Đ ến làng chài Vĩnh Hy lúc sáng sớm, bạn sẽ có những giây phút thư thả ngồi đợi những chuyến tàu cập bến, sẽ tung tẩy trên tay mớ mự...
-
Quà của đấtN hững ai sinh ra ở Phan Rang, Ninh Thuận ắt hẳn đều có một thời tuổi thơ với một thứ đồ chơi rất quen thuộc: Gà tàu dúc dích. Tại Ninh Thuậ...
-
Thạch Động tự ở xứ QuảngT hạch Động tự (chùa Hang) nằm trong một hang đá tự nhiên ẩn mình trong núi Hòn Bà ở thôn An Thiện, xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quản...
Danh Mục
Địa danh
Xã xì trét
Chuyến đi kỳ thú
Thắng cảnh tâm linh
Làng nghề
Lễ hội
Girl xinh
Girl Châu Á
Núi
Du lịch
Bikini
Tự tình
Động
Lộ hàng
Girl Việt Nam
Blogger
18+
Ẩm thực
Khách sạn
Cẩm nang du lịch
Làm đẹp
Hot girl
Sức khỏe
Clip Shock
Show Biz
Teen tự sướng
Tin tức sốc
Y học bốn phương
Đà Lạt
Girl Châu Âu
Góc Tâm Sự
Ngọc Trinh
Đặt khách sạn
Ảnh nóng
Ảnh sex
Chăm sóc da
Công ty đa cấp
Dưỡng da
Gái đẹp 3 miền
Hiếp Dâm
Khám phá
Lưu Dịp Phi
Ngực phụ nữ
Nuôi dạy con
Sống ảo
Thủ thuật Blogger
Trang điểm



























