Label-1

Phượt

Teen tự sướng

Chợ phiên bên cột mốc biên giới
(TPO) - Trong tiết trời bàng bạc lạnh những ngày cận Tết đất Hà thành bất ngờ gặp chiếc khăn vuông xanh đỏ mà những thiếu nữ dân tộc Mông, Ráy, Xa Phó... thường vấn khéo léo trên đầu, lại thấy xốn xang những lần đi qua, lang thang phiên chợ rực rỡ sắc màu vùng cao, biên viễn Tây Bắc bồng bềnh mây.

< Chợ cửa khẩu mốc 358 Bạch Đích được mở vào ngày Thân, ngày Dần theo lịch âm hàng tháng.

Không nổi tiếng và sầm uất như chợ cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn), Móng Cái (Quảng Ninh), Lao Bảo (Quảng Trị)... nhưng những phiên chợ được họp bên những cột mốc biên giới ở Điện Biên, Hà Giang luôn có sức gọi mời, cuốn hút. Giữa khung cảnh hùng vĩ điệp trùng mây núi quan ải, mỗi phiên chợ nơi đây là một ngày hội của đồng bào các dân tộc, người dân hai bên đường biên giới.

Chợ phiên bồng bềnh mây

Trong hành trình mang lá cờ Trường Sa lên tặng chiến sỹ đồn biên phòng A Pa Chải (xã Sín Thầu, Mường Nhé, Điện Biên), người viết có dịp ghé thăm khu chợ ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Trung Quốc, đúng dịp tết của người dân tộc Hà Nhì. Phiên chợ được mở ngay tại điểm nối A Pa Chải (xã Sín Thầu, Mường Nhé, Điện Biên) - Long Phú (huyện Giang Thành, Vân Nam, Trung Quốc), gần cột mốc số 3 giữa biên giới Việt Nam–Trung Quốc. Cột mốc số 3, được xác định chủ quyền từ năm 2001, màu trắng xám có chiều cao 1,2m, dày 3cm. Nhìn từ cột mốc số 3, Trạm kiểm soát biên phòng A Pa Chải vững chãi với tòa nhà hai tầng khang trang nổi bật giữa núi rừng.

< Hàng bún phở nghi ngút ở chợ phiên Bạch Đích.
Dulichgo
Theo giới thiệu của chiến sỹ đồn biên phòng A Pa Chải, chợ được thành lập từ năm 2010, mở phiên họp vào các ngày 3, 13 và 23 dương lịch hằng tháng, cũng là những ngày mở lối cửa khẩu. Mỗi phiên chợ thường họp từ sáng sớm đến 5 giờ chiều. Để phiên chợ diễn ra an toàn và đảm bảo công tác an ninh quốc phòng, mọi người đều phải qua trạm kiểm soát của Đồn Biên phòng A Pa Chải và trình giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc sổ hộ khẩu. Phương tiện được gửi tại khu vực riêng và có các chiến sỹ trông coi cẩn thận, miễn phí.

Chợ biên giới A Pa Chải - Long Phú có diện tích rộng so với mật độ dân cư còn thưa thớt. Các sạp hàng, cũng như cương thổ của hai quốc gia phân biệt bằng vạch bê tông rộng 60cm. Hàng quán được dựng khá đơn sơ, cũng chia ra từng ô nhỏ bày bán các mặt hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu của nhân dân khu vực vùng biên. Những cửa hàng tạp hóa chủ yếu bày bán bánh kẹo, thuốc lá Vinataba, cà phê Trung Nguyên, chè Tân Cương, cao Bạch Hổ...

Đồng bào dân tộc các bản ở xã Sín Thầu mang đến chợ nông sản tự sản xuất được như gạo nếp, gạo đỏ, gà, thảo quả; nông cụ tự rèn dao, cuốc, lưỡi cày của người Hà Nhì. Đây cũng là những mặt hàng được nhiều người Trung Quốc thường tìm mua. Bên phía Trung Quốc, mặt hàng bày bán chủ yếu là đồ gia dụng, điện tử, giày dép quần áo... Không chỉ có người Việt và người Trung Quốc, đến chợ mua sắm còn có người Lào, dù sinh sống ở những bản khá xa chợ.

Trong không khí giao hảo thông thương, chúng tôi đến một cửa hàng của chị người Trung Quốc sát mép đường bê tông, hỏi mua chiếc ô, thử cảm giác đi chợ vùng biên. Dùng tay chỉ mặt hàng và bấm máy tính trả giá, tính tiền hoặc dùng tiền của mỗi nước để ra ký hiệu là chuyện bình thường ở chợ vùng biên. Một cái gật đầu và nụ cười tươi rói giữa chủ và khách đánh dấu sự kết thúc của cuộc mua bán.

Cũng được mở phiên họp gần cột mốc biên giới Việt Nam – Trung Quốc, có chợ Cửa khẩu Mốc 358 Bạch Đích (xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, Hà Giang). Đến nay đã nhiều dịp đến chợ mốc 358, nhưng sự háo hức vẫn nguyên vẹn như lần đầu tiên lên chơi chợ những ngày xuân 2012. Sau khúc cua, khu nhà kiên cố lợp mái tôn khang trang dần hiện lên qua cửa kính chiếc xe u-oát của Đồn Biên phòng Bạch Đích. Trên con đường sương uốn lượn cheo leo sườn núi, nổi bật từng tốp người xúng xính váy áo rực rỡ sắc màu dập dìu từ các bản trên núi xuống, bản dưới thung lũng lên; vang tiếng xe máy, vó ngựa thồ hàng đến chợ.

< Du khách đến phiên chợ vùng biên còn được gặp những cột mốc chủ quyền. Trong ảnh là cột mốc 358 Bạch Đích, Hà Giang.
Dulichgo
Theo giới thiệu, đây là khu chợ duy nhất phục vụ nhân dân 8 thôn bản thuộc xã Bạch Đích, cũng là chợ phiên duy nhất cho người dân giáp biên thuộc huyện Ma Ly Pho, Trung Quốc sang giao lưu mua bán. Thêm nữa, nhiều lái buôn ở các chợ khác thuộc huyện Yên Minh và các huyện lân cận cũng đến thu mua hàng hóa, trao đổi đã góp phần tạo nên sự nhộn nhịp của phiên chợ. Chợ được mở vào ngày Thân, ngày Dần theo lịch âm hàng tháng.

Chen chân chơi chợ, nhiều thành viên trong đoàn báo chí chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng của sản phẩm bày bán, từ hàng nông cụ, nông sản, sản phẩm thủ công truyền thống, đến hàng điện tử, máy móc sản xuất nông nghiệp, phân bón... Những hàng ăn góc chợ nghi ngút khói, phụ nữ trẻ nhỏ xì xụp những tô bún, phở nóng hổi; đàn ông khề khà bên chén rượu ngô, mời nhau bát thắng cố. Góc bày bán đồ nữ trang, đồ dùng gia đình, vải, sợi rộn ràng các bà các cô người dân tộc Mông, Dao, Lô Lô, La Chí... xúng xính váy áo. Một góc khác, người bán rượu ngô bận rộn với việc chắt rượu từ can sang chai cho khách. Mỗi lần nhớ lại cảm giác xì xụp tô phở nóng béo ngậy, nhâm nhi hương vị cay cay khê nồng đặc trưng của rượu ngô giữa cái lạnh tê tái vùng biên viễn và ánh mắt tò mò của những người xung quanh mà thèm!

Sắc màu

Nơi vùng cao, biên ải quan san chất ngất mây núi Tây Bắc, mỗi phiên chợ tựa như lễ hội sắc màu, với nhiều hoạt động trao đổi mua bán và giao lưu. Đâu chỉ có váy áo, mũ khăn xúng xính trên người đến chợ mà cơ man sắc đỏ đen tím hồng vàng của thổ cẩm, nữ trang, cuộn lanh, chỉ thêu và nông sản, sản vật núi rừng. Đến chợ là những người dân địa phương. Với đồng bào vùng cao, cái mặc có thể chưa đủ ấm, tiền chưa đủ tiêu, nhưng không thể thiếu mặt trong ngày chợ phiên.

Không chỉ trao đổi những sản phẩm tự sản xuất, mua về những thứ không thể tự làm ra, những phiên chợ còn là dịp gặp gỡ trò chuyện của người dân sau những ngày lao động vất vả; lần hẹn hò của những đôi trai gái đã bén duyên nhau. Chẳng thế mà đến chợ phiên vùng cao nơi đâu cũng dễ câu hát trong bài “Chợ phiên Lai Châu”: Đỉnh đèo đội trời, chân đồi đạp suối, sáng mở cửa gặp núi, đêm kê gối bằng rừng. Ngày gùi nắng trên lưng. Vui... tưng bừng phiên chợ... Bước tới phiên chợ đông, má em gọi nắng hồng. Bước tới phiên chợ đông, váy hoa mừng tung tấy.

Chợ phiên vùng cao thường được mở định kỳ vào thứ bảy hoặc chủ nhật hàng tuần, nhưng cũng có nơi định thời gian họp khác. Chẳng hạn, chợ phiên Lũng Phìn, Sà Phìn, Phó Bảng, Phố Cáo (Đồng Văn, Hà Giang) được tính lùi lại các thứ trong tuần, ví dụ, tuần này họp ngày chủ nhật, tuần sau sẽ là thứ bảy, tuần sau nữa là thứ sáu. Hoặc chợ phiên A Pa Chải (Điện Biên) cố định phiên vào các ngày 3,13,23 dương lịch hàng tháng. Chợ thường được họp bên đường hay khoảnh đất bằng tương đối bằng phẳng lưng chừng núi. Dọc từ đầu đến trung tâm chợ bày bán nông cụ, nông sản, sản phẩm tiêu dùng; hàng quán ăn uống. Khu cuối chợ luôn là nơi bán gia súc, gia cầm. Trâu bò, dê, lợn đều được người dân buộc dây thừng dắt đến chợ. Đây là khu vực nhộn nhịp, ồn ã nhất chợ với tiếng chào hàng, ngả giá giữa người mua kẻ bán và tiếng kêu của động vật.
Dulichgo
Vào những ngày giáp Tết Nguyên đán, phiên chợ vùng cao càng thêm nhộn nhịp, rực rỡ sắc màu gấp bội những ngày chợ trong năm. Phiên chợ ngày Tết còn có nhiều hoạt động vui chơi truyền thống của các dân tộc; biểu diễn văn nghệ giải trí lẫn giao duyên. Đầu núi hoa ban, hoa mận đã nở trắng rừng, phiên chợ ngày xuân đã tới cho miệng em cười, áo em rực rỡ...

Theo Mai Xuân Tùng (Tiền Phong)
Du lịch, GO!
Thiếu nữ Mông trong trang phục du Xuân
(DTO) - Trang phục truyền thống là một nét văn hóa đặc sắc của người Mông Miền tây Nghệ An. Từ xa xưa, bộ trang phục truyền thống của người Mông ở Miền tây xứ Nghệ luôn được lưu giữ trong cộng đồng và được sử dụng trong các dịp Tết, lễ hội.

< Các em trông bộ trang phục xuống chợ ngày Xuân.

Phụ nữ Mông ở miền tây xứ Nghệ mặc các bộ trang phục truyền thống vào dịp năm mới hết sức bắt mắt, khác biệt so với các bộ trang phục khác của người Thái, Khơ Mú hoặc Ơ Đu…

Bộ quần áo truyền thống của họ bao gồm quần rộng màu đen (hu thiếc) và áo dài màu đen (lu chiếu chậm) với cổ áo được thêu đáp mảnh công phu.

< Nét đẹp mỹ miều trong bộ trang phục vui Xuân đón Tết của học sinh Mông.

Còn đối với trẻ em, học sinh ở bậc Tiểu học đến THPT thì bộ trang phục dành cho lễ hội, chơi Tết, vui xuân …rất đẹp, bắt mắt với bộ váy xúng xính với 3 loại màu chủ đạo như: áo khoác bên ngoài màu đen, áo trong màu trắng cùng chiếc váy ngắn trắng ngang đầu gối.

< Vẻ đẹp rạng rỡ của các em trong ngày du Xuân.
Dulichgo
Và loại màu thứ ba trang trí đẹp cho bộ áo váy là những chiếc túi thêu, chiếc khăn quấn quanh người màu đỏ, pha tím, xanh… nhằm làm cho bộ trang phục của thiếu nữ Mông trở nên sặc sỡ hơn.

Một cô gái hấp dẫn nhất khi cô đeo xung quanh hông thắt lưng thêu trang trí màu hồng sáng và màu xanh lá cây. Có thể đeo thêm trang sức là một sợi dây chuyền bạc lớn, những đồng xu...

Ví thêu trang trí, gọi là ví thuốc phiện và khăn xếp đội đầu (phu chong slua) cũng được mặc trong những dịp đặc biệt. Khăn này dài hơn mười mét lụa màu tím được giữ bằng một dải ruy băng sọc (chang).

Bên cạnh đó, cổ áo trong bộ trang phục của người Mông thể hiện sự khéo léo của bàn tay người phụ nữ. Người phụ nữ sử dụng một cặp nhỏ kéo sáng tạo ra hoa văn cầu kỳ từ miếng vải mỏng, sau đó với các đường khâu nhỏ xíu tỉ mỉ, đáp các miếng vải nhỏ thành một lớp thứ hai lên trên nền vải đã cắt.

< Ở Tri Lễ, hầu hết các em học sinh người Mông đều có bộ trang phục cho mình trong ngày Tết đã thu hút khách xin chụp ảnh chung.
Dulichgo
Sau đó, cô trang trí thêm vào đó. Thêu đáp mảnh và các họa tiết rất đa dạng với các hoa văn được sáng tạo từ cuộc sống hàng ngày.

Các họa tiết có thể là hoa đào, ốc, chim, dấu chân của gà, cái đòn gánh, và cối để giã gạo, cái cầu bằng tấm ván đôi hoặc đơn.

Những ngày lễ, Tết… có dịp gặp các thiếu nữ Mông mặc trên mình bộ trang phục đẹp nhất để du Xuân, chơi Tết đã để lại ấn tượng cho người xem.

Theo Nguyễn Duy (Dân Trí)
Du lịch, GO!
Tết trâu cúng “ông chuồng – bà chuồng”
(DVO) - Tết trâu bắt đầu từ sáng mùng 4 bằng nhang đèn và mâm trái cây, thúng gạo, giấy tiền vàng bạc rượu, trà (có chỗ cúng bằng bánh tét với đường) để cúng “ông Chuồng - bà Chuồng”.

Ngày xưa, con trâu giúp cho người dân quê biết bao công sức, nhất là những khi phải mướn ruộng để canh tác hàng năm. Nhiều nhà nghèo không có trâu phải đi mướn, cơ cực trăm phần. Nhà khá giả một chút coi con trâu là đầu cơ nghiệp. Vì vậy, người nghèo hay người giàu cũng nhờ nó, nhớ công của nó. Tết đến, người người nhà nhà vui chơi, thì ai cũng nhớ tục Tết trâu.

Tết trâu bắt đầu từ sáng mùng 4 bằng nhang đèn và mâm trái cây, thúng gạo, giấy tiền vàng bạc rượu, trà (có chỗ cúng bằng bánh tét với đường) để cúng “ông Chuồng - bà Chuồng”. Sau đó, chủ nhà lại chuồng trâu đổ rượu vào miệng mũi trâu đực, đổ nước trà vào miệng mũi trâu cái, rồi lấy hai lá vàng bạc giấy dán hai sừng. Có người cúng xong còn đem bánh tét đúc cho trâu ăn. Chuồng trâu cũng được dán giấy cho … ăn tết.

Chủ trâu cũng không quên những bao lì xì hoặc cho những thúng gạo, đòn bánh cho những đứa trẻ chăn trâu mướn cho họ, coi như quà thưởng, đền công khó nhọc cả một năm trời cho những đối tượng giúp họ có lúa đầy bồ, gạo đầy cối. Xong nghi thức, trâu được thả ra đám cỏ non người ta đã dành sẵn cho nó.

Trong cuộc sống hiện nay, máy móc đã thay trâu cày, và cũng từ đó phong tục tốt đẹp ngày xưa của ông bà để lại đã gần như vắng bóng.

Tuy nhiên, hình thức nghi lễ nào cũng hàm chứa sự biết ơn của người dân đối với những đối tượng đã phù trợ cho họ vượt qua khó khăn, sự rủi trong đời sống. Yếu tố tâm linh ấy đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn. Tết nhứt cũng là dịp để trả ơn và ghi ơn. Tiền nhân đã gửi gắm nhiều giá trị nhân văn sâu sắc qua những tập tục hình thành nên tự ngày xa xưa ấy!

Theo Minh Khuyên (Dân Việt)
Du lịch, GO!
Đầu năm đi ăn tết Grơ của người Khơ Mú
(DNVN) - Trong những dịp tết Nguyên Đán đồng bào dân tộc Khơ Mú lại tổ chức tết Grơ theo phong tục riêng của mình.

< Nghi lễ cầu may bằng cách bôi tiết gà.

May mắn cho chúng tôi khi mùng một tết Ất Mùi được dự tết Grơ tại gia đình thầy giáo người Khơ Mú, Lữ Văn Thịnh (trú tại bản Thanh Bình, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Chương, Nghệ An). Gia đình thầy giáo Thịnh trước đây sinh sống tại bản Xốp Pột, xã Kim Đa, huyện Tương Dương, Nghệ An. Khi công trình thủy điện Bản Vẽ đóng lòng hồ gia đình thầy cùng các hộ dân khác được chuyển về Khu tái định cư thủy điện Bản Vẽ tại xã Thanh Sơn, huyện Thanh Chương.

Cũng như bao gia đình đồng bào Khơ Mú khác cứ mỗi dịp đến xuân về gia đình thầy Thịnh lại tổ chức tết Grơ. Hôm chúng tôi có mặt tại gia đình thầy Hiệu đúng vào mùng 1 tết Nguyên đán Ất Mùi khi gia đình cũng đang chuẩn bị làm lễ Grơ đầu năm.

Theo phong tục của đồng bào Khơ Mú để ăn tết Grơ mỗi gia đình đều phải sắm đủ lễ gồm: 1 cặp gà (1 con gà trống, 1 con gà mái), một vò rượu cần, một đĩa cau trầu. Nếu thiếu một trong 3 thứ trên thì không thể thực hiện được nghi lễ của ngày tết Grơ.

Sau khi đồ lễ được bày biện đầy đủ ra giữa nhà người lớn tuổi nhất nhà thầy Thịnh là ông Lữ Xuân Hiệu (bố thầy giáo Thịnh) bắt đầu làm lễ tết Grơ.

Các lễ nghi được ông Hiệu đọc bằng tiếng đồng bào dân tộc Khơ Mú. Sau khi kết thúc bài cúng và lần uống rượu cần đầu tiên một con gà sẽ được cắt mỏ lấy tiết. Rồi ông Hiệu cầm cả con gà bôi tiết lên đầu gối cho từng người trong gia đình. Chủ lấy tiết gà quệt theo chiều từ trên xuống dưới và khẩn cầu cho những điều không tốt đẹp của năm cũ hãy đi ra xa con người.
Dulichgo
Khi tất cả mọi người trong gia đình đã được làm nghi lễ này, một con gà khác được cắt mỏ lấy tiết. Tiếp tục lần lượt từng người trong gia đình lại được chủ lễ bôi tiết gà lên đầu gối. Lần này là chiều từ dưới chân lên đầu gối, kèm với câu khấn cho mọi điều tốt đẹp sẽ đến vào năm mới. Sau đó ông Hiệu được chính vợ mình là bà Moong Thị Loan lấy một con gà đã được cắt mỏ quyệt máu lên đầu gối giống mọi thành viên khác.

Ông Hiệu giải thích, theo quan niệm của đồng bào Khơ Mú việc cắt mỏ gà trong tết Grơ rồi lấy máu bôi vào đầu gối, chân của tất cả thành viên trong gia đình là để xua đuổi tà khí để xóa tan bệnh tật, khỏe mạnh. Việc cắt tiết gà để bôi vào đầu gối các thành viên trong gia đình cũng để mong một năm mới may mắn, đôi chân vững vàng trên mọi nẻo đường.   

Sau khi kết thúc nghi lễ trên cả 2 con gà đã được làm thịt để làm mâm cúng mời tổ tiên về ăn tết. Thịt gà, xôi và đồ cúng lễ khi kết thúc lễ được ông Hiệu phát cho mọi người trong gia đình với mong muốn có một năm no ấm. Người được nhận lễ cũng phải cúi đầu nhận lễ rồi chấm lên trán sau đó mới ăn.

Tết Grơ của đồng bào Khơ Mú kéo dài trong vòng 1 ngày 1 đêm. Sau lễ cúng trên coi như năm mới đã bắt đầu với từng nhà. Kết thúc đêm làm lễ một vị khách quý sẽ được gia đình Khơ Mú mời đến nhà làm lễ xông đất. Để xem năm mới có bất trắc hay may mắn gì hay không một vị chức sắc trong bản sẽ được các gia đình mời đến để xem chân của hai con gà làm lễ trước đó.

Tuy nhiên, có một điều khác với các dân tộc khác ngày tết trên bàn thờ của các gia đình Khơ Mú không có hoa tươi. Theo ông Hiệu cho biết: Theo quan niệm của đồng bào Khơ Mú nếu năm mới để lá xanh trên bàn thờ tổ tiên thì gặp điều không may mắn. Do đó cứ mỗi dịp tết đến xuân về dù có hoa đào ở trong vườn nhà đồng bào Khơ Mú cũng không chặt đem vào nhà trang trí.
Dulichgo
Sau khi được dự tết tại nhà thầy giáo Thịnh chúng tôi đã được gia đình mời uống rượu cần. Cũng như bao dân tộc khác cứ mỗi độ tết đến xuân về sau mọi nghi lễ tất cả anh em họ hàng đều được mời đến nhà uống rượu cần, ăn cơm vui xuân. Nay cuộc sống của đồng bào Khơ Mú đã khấm khá hơn vì được sự quan tâm của các cấp chính quyền. Để đồng bào dân tộc Khơ Mú có một cái tết đầy đủ UBND tỉnh Nghệ An cũng đã trao hàng trăm suất quà cho các hộ nghèo đồng bào dân tộc Khơ Mú đang sinh sống tại các huyện miền tây xứ Nghệ.

Theo Xuân Hòa (Doanh Nghiệp VN)
Du lịch, GO!
Về quê đụng lợn ngày Tết
(TNO) - Trong khi ở các vùng thành thị, trẻ em không biết thế nào là đụng lợn ngày Tết, thì ở nhiều vùng quê, tục này vẫn được duy trì.

Theo ông Quách Công Chử, một người dân ở xã Cẩm Liên (huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa): Đụng lợn dịp Tết giống như cách chia phần khi săn bắt được con mồi của cha ông thủa trước. Người Mường ở vùng núi Thanh Hóa thường vào rừng săn bắt thú. Mỗi cánh thợ săn có khoảng 7 - 15 người, trong đó, dụng cụ săn bắt gồm có chiêng đồng, nỏ, súng kíp…

Họ săn bắt bằng cách tách thành từng nhóm nhỏ 2 người, một người bắn và người còn lại gõ chiêng đồng. Cánh thợ săn sau khi xác định khu vực có thú liền quây con mồi theo hình cánh cung để đuổi thú xuống chân núi. Những loại thú như lợn rừng, hoẵng... khi chạy xuống chân núi tiếp tục bị dồn vào khu vực vùng đầm lầy, vũng trũng. Lúc này, chó săn cùng thợ săn sẽ lao vào bắn và kết liễu con mồi.

Theo các bậc cao niên người Mường, sau khi săn thú về, sẽ có một người đứng ra giám sát việc chia thịt. Khi chia phải đảm bảo ai cũng có đủ các món như thịt thăn, lòng, tai, xương...

Nếu có 7 người đi săn thì chia 8 phần, 8 người đi săn thì chia 9 phần... 1 phần dư ra là để cùng nhau liên hoan.

Ăn xong, người nào xách phần thịt của người đó về nhà. Đặc biệt, trong lúc chia thịt, chú chó cắn nhát đầu tiên vào con mồi được chia hẳn một miếng thịt to.
Dulichgo
Cách chia phần thịt sau mỗi chuyến săn thú rừng như vậy được áp dụng cho những lần đụng trâu, bò, đụng lợn từ ngày thường lẫn ngày Tết.

Theo thông lệ của người Mường, thời gian thịt lợn Tết vào ngày 28 hoặc 29.12 âm lịch. Những gia đình tham gia đụng lợn phải dậy từ sáng sớm để nấu nước. Sau đó, những người đàn ông có sức khỏe sẽ bắt lợn đưa lên cân.

Công việc tiếp theo là cắt tiết, cạo lông và mổ lợn. Thời gian hoàn thành giết mổ kéo dài khoảng 3 tiếng. Tiếp đến, gia chủ sẽ cắt một đĩa thịt để thắp hương tổ tiên. Hương cháy được khoảng một phần hai nén, anh em họ hàng, những gia đình tham gia đụng lợn sẽ tập trung liên hoan rồi đem phần thịt của mình về làm giò, chả chuẩn bị cho Tết.

Cũng như người Mường, người dân một số nơi hiện cũng đụng lợn, nhưng việc chia phần có nhiều nguyên tắc. Mục đích chủ yếu đụng lợn ngày Tết vì thấy vui, thấy thích thú và đặc biệt là nhiều người muốn có được thực phẩm an toàn, không dùng chất cấm chăn nuôi, thậm chí không dùng thức ăn công nghiệp.

Chị Lê Thị Hoài Hương, người dân ở huyện Ba Vì (thành phố Hà Nội) cho biết: "Một số năm, gia đình chị cùng 2 - 3 người khác đụng lợn. Thực ra ăn thì chẳng mấy, nhưng trong lòng thấy thích thú vì đó là tục bao đời để lại. Cộng thêm nữa là để có thực phẩm an toàn ngày Tết".
Dulichgo
Theo chị Hương, lợn mà người dân nuôi để đụng vào dịp Tết là "lợn sạch". Thức ăn cho lợn chỉ có cám gạo, rau khoai lang trong vườn, không dùng thức ăn công nghiệp. Thời gian nuôi cho đến khi thịt, kéo dài tới 6 tháng. Năm nào gia đình chị không nuôi được lợn thì rủ người khác lên vùng núi mua lợn đen của người dân tộc về đụng.

“Hàng năm, cứ vào ngày 29 Tết là anh em, con cháu trong gia đình đã tụ họp đông đủ sau cả năm trời bôn ba kiếm sống. Cho nên cái ngày đụng lợn Tết trở nên ấm áp, vui vô cùng”, chị Hương chia sẻ.

Theo Hà An - Nam Anh (Báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!
Cách bày mâm ngũ quả ba miền Bắc - Trung - Nam
(GDVN) - Ngày Tết cổ truyền Việt Nam không thể thiếu mâm ngũ quả.Tuy cùng là mâm ngũ quả nhưng mỗi vùng miền lại có một cách bài trí và lựa chọn các loại khác nhau.

Mỗi dịp Tết đến xuân về, trên bàn thờ của mọi gia đình người Việt đều bày mâm ngũ quả cúng tổ tiên. Ngũ quả - thể hiện cho 5 vị Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ, 5 yếu tố được cho là đã cấu thành nên vũ trũ. Nếu căn cứ theo màu sắc trong triết lý phương Đông thì mâm ngũ quả phải có 5 loại quả với 5 màu khác nhau. Đó là hình ảnh thể hiện lòng thành kính với những người đã mất và biểu trưng cho việc cầu may mắn, bình an đến với gia đình.

Mâm ngũ quả thường là một chiếc mâm bằng gỗ tiện, sơn son, có chân và được gọi là mâm bồng. Nếu không có mâm bồng thì có thể đặt trên một chiếc đĩa to.

- Ngũ quả miền Bắc

Miền Bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm và có đủ bốn mùa nên các loại quả có vẻ phong phú và đa dạng. Cho nên hầu như tất cả các loại quả đều có thể đặt lên bàn thờ miễn sao mâm ngũ quả trông đẹp mắt là được. Tuy nhiên 5 loại quả thường xuất hiện: chuối, Phật thủ hay bưởi, đào, quýt, táo. Nải chuối sẽ được đặt ở dưới cùng, ở giữa  như bàn tay hứng lấy những gì tinh túy nhất. Màu xanh của chuối tượng trưng cho sự tràn trề nhựa sống của mùa Xuân.
Dulichgo
Nằm trong lòng sắc xanh ấy có thể là quả bưởi hoặc quả Phật thủ có sắc vàng. Lý do đặt Phật thủ ở giữa vì loại quả này có mười cánh múi chụm lên như 10 ngón tay, được trưng lên bàn thờ tổ tiên với niềm hi vọng cầu mong được bàn tay Phật trời ban phúc ban lộc. Nếu không tìm được Phật thủ thì có thể đặt quả bưởi vàng căng tròn, tràn đầy, hứa hẹn sự may mắn.

Tiếp sau đó là ba loại quả mang màu sắc khác nhau và tượng trưng cho những điều khác nhau. Nếu quả đào tượng trưng cho sắc hồng thể hiện sự thăng tiến, thành đạt, thì táo mang màu đỏ có nghĩa là phú quý, giàu sang, màu vàng thắm của quýt hi vọng năm mới đầy may mắn và đoàn tụ.

- Ngũ quả miền Trung

Miền Trung là vùng có miền khí hậu khắc nghiệt nhất cả nước, hàng năm xảy ra nhiều thiên tai, bão lũ, gió Lào, hạn hán, lại thêm đất đai vốn cằn cỗi gây nhiều khó khăn cho trồng trọt sản xuất hơn nữa thời gian Tết thường rơi vào mùa Đông khắc nghiệt nên cây trái đặc sản nơi đây rất hiếm.
Dulichgo
Người dân nơi đây không quá câu nệ hình thức ý nghĩa của mâm ngũ quả, mà chủ yếu là sự thành tâm của khúc ruột miền Trung cằn cỗi đối với ông bà, tổ tiên. Khó khăn là thế nhưng địa hình lại nằm trong sự giao thương giữa hai miền Bắc- Nam làm cho mâm ngũ quả của người miền Trung vẫn bày biện đủ “ngũ sắc”: chuối, mãng cầu, sung, dừa, thanh long, xoài.. rất đẹp mắt.

- Mâm ngũ quả miền Nam

Nam Bộ nằm trong miền khí hậu đặc trưng  khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với hai mùa: mưa và khô và vùng cận xích đạo, nền nhiệt phong phú, lượng ánh nắng dồi dào.

Khí hậu cuối năm không hề lạnh lẽo như miền Bắc và miền Trung. Nền khí hậu ấy làm cho thị trường hoa quả nơi đây luôn phong phú. Vào dịp Tết hoa quả không khan hiếm như miền Trung và họ cũng chẳng tùy tiện cho tất cả các loại quả lên mâm ngũ quả như người miền Bắc.

Trên mâm ngũ quả của người miền Nam chuộng dừa, mãng cầu, bưởi, xoài, sung (theo câu: “Cầu sung vừa đủ xài”), thêm chân đế là 3 quả dứa (trái thơm) thể hiện sự vững vàng. Đặc biệt, mâm ngũ quả của người miền Nam không thể thiếu cặp dưa hấu ruột đỏ vỏ xanh, tượng trưng cho lòng trung nghĩa và trinh tiết của người phương Nam.

Có sắc vàng của bưởi như miền Bắc, có mãng cầu, xoài như miền Trung “đầu sóng ngọn gió”. Còn thiếu sắc gì thì họ bổ sung sắc đó nhưng ắt hẳn là phải có sự kiêng cữ. Mâm ngũ quả của họ không bao giờ có chuối, vì loại quả này tên gọi có âm giống từ “chúi" thể hiện sự nguy khó. Quả cam cũng không được có mặt vì câu “quýt làm cam chịu”.

Người miền Nam chuộng dừa bởi họ quan niệm sắc xanh của dừa tượng trưng cho một năm không túng thiếu cùng quả sung để cầu mong về sức khỏe và tiền bạc đến với gia đình.
Dulichgo
Mỗi miền mỗi khác tùy vào đặc trưng khí hậu, sản vật và quan niệm riêng, nhưng tựu chung, mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết vẫn là nơi hội tụ của hồn quả, hương cây, của nếp văn hóa dân tộc, của ý nguyện cầu hòa, an, đủ của người dân Việt.
Chính vì vậy, người dân Việt dù ở phương trời nào, đến ngày Tết cổ truyền vẫn không bỏ qua tục lệ này, như một sự nhắc nhở, cho bản thân và cho con cháu, về cội nguồn của mình.

Báo Giáo Dục
Du lịch, GO!

Độc chiêu 3 miền trong mâm ngũ quả
Người Chăm nơi thượng nguồn
Cộng đồng hàng trăm người dân tộc Chăm quê gốc vùng An Phú (An Giang) vì kế sinh nhai phải ngược dòng Vàm Cỏ Tây lên tận vùng thượng nguồn giáp ranh Campuchia sinh sống. Những ngày giáp Tết Nguyên đán, nhiều gia đình lại lục tục rủ nhau chuẩn bị xuôi thuyền về quê cũ, nơi có những thánh đường rộng lớn của người Chăm, như một nghi lễ hành hương đặc biệt.

Tiếng cười trên sông nước

Mặc dù đã đến thị trấn biên giới Mộc Hóa (huyện Mộc Hóa, Long An) rất nhiều lần, nhưng đến dịp gần Tết Nhâm Thìn này tôi mới biết ở đây có một xóm chài người Chăm sinh sống ở đầu nguồn sông Vàm Cỏ Tây, đoạn ngay nơi giáp ranh xã Bình Hiệp.

Tôi tìm đến xóm Chăm này vào sáng sớm, khi nắng mới lên, mọi người đang hối hả làm việc. Anh Mohamad, 31 tuổi, tươi cười cho biết, anh cùng nhóm bạn trong xóm đi buôn tận Sài Gòn mới về tối qua.

Thấy chúng tôi nói chuyện vui vẻ, chị Khoti, vợ anh, cũng góp chuyện: “Ở đây có nhiều người Chăm dệt vải thổ cẩm truyền thống. Nhóm của anh ấy lấy vải thổ cẩm đem lên Sài Gòn bán cho thương lái, rồi mua trái cây, đồ nhựa và sữa, muối mang về. Mỗi chuyến đi chừng nửa tháng. Đợt này chắc là chuyến cuối bởi sắp Tết rồi, phải sắm sửa làm lễ và chuẩn bị về lại cố hương ở An Giang”.

Nhìn vào phía trong chiếc thuyền nhỏ bé dài chừng 15m, là tổ ấm của đôi vợ chồng trẻ ấy, chúng tôi thấy có đầy đủ các vật dụng thiết yếu: tivi, tủ lạnh, nồi niêu, xoong chảo..., mọi thứ được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp.

Trải tấm thảm thổ cẩm hoa văn sặc sỡ trên boong thuyền, anh Mohamad quỳ hướng mặt về phía Tây, chắp tay lạy Trời đất. Chị Khoti bảo, đi buôn lâu, giờ về anh ấy phải làm lễ bù. Nhìn đôi vợ chồng trẻ vui đùa cùng đứa con ngay trên boong thuyền, chúng tôi cũng thấy hạnh phúc lây.

< Đàn ông đánh cá.

Chia tay gia đình anh Mohamad, chúng tôi sang chiếc thuyền bên cạnh. Ông Issmail, 64 tuổi, quấn chiếc khăn ngang bụng, xếp chiếc lưới lại, bảo: “Tụi trẻ có thể buôn bán được, chứ tầm tuổi tôi, ngoài nghề chài lưới chả còn làm được gì”.

Quả thực, với nhiều người Chăm sống ở đây, việc chuyển nghề là khá khó khăn do họ ít vốn, lại không quen phong tục tập quán của những tộc người khác.

Ngày nay, các hoạt động giao lưu văn hóa giữa các dân tộc đã khá phổ biến, xóa dần khoảng cách giữa các dân tộc, nhưng cộng đồng người Chăm, nhất là những người lớn tuổi, vẫn giữ thói quen sinh hoạt riêng của mình, sống khép kín.

< Phụ nữ dệt vải.

Ông Issmail cho biết, do cha ông làm nghề chài lưới nên ông đã quá quen thuộc với con tôm, con cá, khúc sông, mùa nước lớn, nước ròng từ nhỏ, giờ bỏ cũng khó.

Ông đã thử lên bờ buôn bán mấy lần, nhưng bị cụt vốn, lại bỏ xuống sông chài lưới. Ở đây cua, cá vẫn nhiều nên cuộc sống nói chung là tạm ổn.
Dulichgo
Lênh đênh trên sông nước nhiều năm, sau khi bôn ba khắp các vùng sông Tiền, sông Hậu, rồi sang cả Biển Hồ (Campuchia), ông Issmail đã cư trú lâu dài tại vùng sông Vàm Cỏ Tây ở thị trấn Mộc Hóa này được gần chục năm.

Ông giải thích: “Ở đây việc đánh bắt cá rất thuận tiện vì có nhiều luồng cá bên Miên (Campuchia) tràn về, và từ đây có thể đi được nhiều nơi. Nhưng quan trọng hơn cả là có thể về cố hương khi cần.

< Xóm chài.

Năm nào cộng đồng người Chăm ở đây cũng về quê một vài lần. Đó là vào các ngày của tháng Ramadan, lễ hội Hát Gi, Tết Roya...”.

Cội nguồn - Bangsa

Theo tiếng Chăm, cội nguồn có nghĩa là Bangsa. Nhiều sách nói rằng, người Chăm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và nhóm người Chăm ở thượng nguồn sông Vàm Cỏ Tây này nói riêng có nguồn gốc ở vùng Ninh Thuận, Bình Thuận của miền Trung.

Cũng có tài liệu lại cho rằng người Chăm từ Campuchia di cư sang, hay có người còn phỏng đoán người Chăm có nguồn gốc từ chính vùng An Giang, bắt nguồn từ vương quốc cổ Champa cách đây hơn một ngàn năm.

< Dù sống lênh đênh nơi xứ người, họ vẫn không quên giờ lễ.

Tuy nhiên, cội nguồn của cộng đồng người Chăm ở thượng nguồn sông Vàm Cỏ Tây này là ở vùng Vĩnh Trường (An Phú, An Giang), và hầu như tất cả vẫn còn nhà cửa ở đó.
Dulichgo
Thế nên, mặc dù không phải là tết chính của dân tộc Chăm, nhưng Tết Nguyên đán cũng là dịp để những người Chăm nơi đây hành hương về thăm lại cội nguồn, quê quán.

Đây có thể coi là sự giao thoa giữa các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam, một điều hoàn toàn bình thường và tốt đẹp, giúp thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em trong cộng đồng.

Men theo con đường đất đỏ ngoằn ngoèo cỏ mọc hai bên, nhìn những cô gái Chăm trong trang phục váy liền áo truyền thống đang hối hả chuẩn bị xoong, nồi, đồ ăn cho chuyến hồi hương của mình chúng tôi cũng thấy nôn nao.

< Những đứa trẻ vô tư.

Người Chăm dù sống ở đâu cũng không bao giờ vào các tiệm ăn, mà thích tự nấu lấy đồ ăn. Vì vậy, những chuyến hành hương của gia đình họ thường khá vất vả.

Thấy chúng tôi đưa máy hình lên chụp, những đứa trẻ người Chăm hớn hở chụm đầu trước ống kính. Có lẽ chúng đang ngây ngất vì sắp được đi xa, được về quê và cùng bè bạn đắm chìm trong những thánh đường rộng lớn của dân tộc mình.

Mặc dù ăn Tết Nguyên đán theo phong tục của người Kinh, nhưng thức ăn của người Chăm trong dịp tết này vẫn là thức ăn truyền thống đặc trưng của dân tộc họ.

Đó là càri thịt bò, cơm trắng và các loại dưa chua (củ hành, củ kiệu, củ cải trắng) và muối tiêu chanh, nhưng trong các bữa tiệc của người Chăm tuyệt nhiên không có một giọt rượu vì luật định của đạo Hồi cho rằng uống rượu là có tội với thánh Ala.

Chia tay xóm nhỏ nơi thượng nguồn sông Vàm Cỏ Tây, tôi ngược quốc lộ 62 trở về thành phố cũng là lúc những chiếc thuyền của người Chăm nơi đây chuẩn bị nhổ neo về lại cố hương trong ánh nắng ấm áp của mùa Xuân phương Nam.
Dulichgo
Cũng như họ, tôi thầm mong chuyến hành hương ấy sẽ thuận buồm xuôi gió để những đứa trẻ người Chăm có được một cái Tết ấm áp nơi cội nguồn của dân tộc mình.

Theo Đoàn Xá (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!
Tục kiêng kỵ ngày Tết trên khắp 3 miền
(DTO) - Mỗi miền có những tục kiêng kỵ khác nhau nhưng đều mong muốn một năm mới đầy đủ, sung túc và vui vẻ. Vì vậy hãy ghi nhớ những tục kiêng kỵ của mỗi miền để có một năm mới tràn ngập niềm vui.

- Miền Bắc

Người miền Bắc thường có những tục kiêng kỵ từ rất lâu. Tục kiêng đầu tiên và hầu như các gia đình đều thực hiện đó là kiêng không được quét nhà vào 3 ngày Tết bởi theo quan niệm từ xa xưa, việc quét nhà đồng nghĩa với việc quét đi những may mắn, tài lộc. Chính vì vậy ngay từ những ngày trước Tết, các bà, các mẹ đã đã dọn dẹp nhà cửa, chỉnh trang mọi thứ để sẵn sàng đón Tết.

Việc kiêng kỵ này xuất phát từ một câu truyền được lưu truyền trong dân gian. Theo đó, trong Sưu thần ký, có một người lái buôn đi qua một hồ nước và được Thủy thần tặng cho một nàng hầu tên là Như Nguyệt. Từ đó trở đi, người lái buôn trở nên giàu có, sung túc, tiền bạc đầy nhà. Nhưng vào một ngày đầu năm, khi nàng hầu mắc lỗi, người đàn ông này đã đánh đập nàng hầu. Nàng sợ quá biến vào đống rác. Do không biết nên người lái buôn đã đổ rác đi. Từ đó, mọi thức vận may biến mất và ông lại trở nên nghèo khó.

Đầu năm, người miền Bắc cũng kiêng đến nhà người khác xin lửa vì theo quan niệm lửa màu đỏ mang lại may mắn. Nếu cho lửa cũng đồng nghĩa với việc cho đi may mắn, trong nhà sẽ gặp điều không may. Việc xin nước cũng được tránh trong những ngày này.
Dulichgo
Việc đến nhà người khác vào đúng ngày mồng 1 Tết cũng cần được cân nhắc vì nếu không hợp tuổi với gia chủ, bạn được xem như không mang lại may mắn cho người khác. Những người có tang, có chuyện buồn cũng không nên xông nhà người khác. Tốt nhất nếu đi chơi, bạn hãy đi vào ngày 2.

Nên tránh nói những từ ngữ liên quan đến chết chóc hay ốm đau, những từ ngữ xui xẻo. Cũng nên cẩn thận để không làm vỡ bát đĩa, hay cãi nhau vì theo quan niệm nếu xảy ra vào ngày đầu năm thì cả năm khiến không khí gia đình căng thẳng, không vui.

Dân gian có câu “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Theo quan niệm của người xưa, muối mặn có thể xua đuổi tà ma, đem lại nhiều may mắn trong gia đình. Bên cạnh đó, tục mua muối đầu năm còn có ý nghĩa cầu mong sự đậm đà, hòa thuận trong tình cảm gia đình, sự mặn mà trong các quan hệ làm ăn... như vị đậm đà của muối.
Dulichgo
- Miền Trung

Không có nhiều tục kiêng kỵ như người miền Bắc, người dân miền Trung thường kiêng ăn trứng vịt lộn, thịt vịt, thịt chó trong những ngày Tết. Nhiều nhà cẩn thận kiêng trong cả tháng 1 vì theo quan niệm ăn những món này sẽ không mang lại may mắn. Nhiều gia đình còn kiêng ăn tôm do sợ đi giật lùi như tôm.

Người miền Trung vào ngày Tết thích ăn mặc màu sắc với mong muốn mang lại sự vui tươi, tránh màu đen và trắng vì cho rằng đó là màu xui xẻo.

- Miền Nam

Người miền Nam với nhiều suy nghĩ phóng khoáng hơn nên họ không đề ra quá nhiều kiêng kỵ. Vào ngày đầu năm, nếu bạn đến nhà ai vào bất kỳ giờ nào, bạn cũng sẽ được mời ăn và nhất định không được từ chối. Hãy nhấm nháp chút ít vì nếu từ chối, gia chủ sẽ không hài lòng.
Dulichgo
Ở một số tỉnh ở miền Nam, người ta kiêng không được làm mất chổi ngày Tết bởi quan niệm nếu mất nghĩa là cả năm sẽ vị trộm khoắng sạch của cải, tài sản.

Một quan niệm nữa là bất kỳ người nào đi chơi cũng phải về nhà trước giao thừa bởi nếu không kịp sẽ bị coi là vất vả, bôn ba trong năm tới. Tuy nhiên, nhiều gia định hiện đại ngày nay không còn giữ tục kiêng này.

Theo Dân Trí
Du lịch, GO!