Label-1

Phượt

Teen tự sướng

Đầu năm viếng đền ở Sài Gòn
Viếng tiền nhân, những anh hùng dân tộc, những người có công mở cõi về phương Nam vốn là một tập tục rất lâu đời của người Sài Gòn . Ngay giao thừa lượng người đổ về các đền, các lăng càng lúc càng đông và kéo dài suốt tết.

< Đền thờ đức thánh Trần.

+ Đền thờ đức thánh Trần

Đền thờ đức thánh Trần ở tại số 36 đường Võ Thị Sáu (P. Tân Định Q. 1) được xây dựng vào năm 1932. Sau một lần xây dựng lại và rất nhiều lần trùng tu đã tạo ra được diện mạo của đền thờ như hôm nay.
Đền thờ Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, người đã 3 lần đánh đuổi quân xâm lược Nguyên Mông giữ vững bờ cõi nước Nam.

< Dâng hương trước tượng Hưng Đạo Vương.
Dulichgo
Từ ngoài bước vào, bức tượng Hưng Đạo uy nghi sừng sững ghi lại hình ảnh ông chỉ tay xuống dòng sông Hóa thề với ba quân, trận này không thắng không trở về khi chính con voi ông cưỡi bị sa lầy. Nghe được lời thề từ chủ tướng, quân sĩ nức lòng ra sức quyết chiến dành thắng lợi vẻ vang trong trận đánh với Ô Mã Nhi.

< Xin lộc.

Trong đền thờ đức thánh Trần có bàn thờ thờ các vị tướng lĩnh tài giỏi đời Trần như: Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng. Ngoài ra, các phù điêu ghi lại các sự kiện trọng đại như hội nghị Diên Hồng, trận Bạch Đằng giang cũng được trưng bày tại đây.

Ngay dưới chân tượn, từng đoàn người thành kính dâng hương. Khói bốc lên bao trùm cả khu vực tạo ra nét huyền ảo lung linh đượm nét linh thiêng.

+ Lăng tả quân Lê Văn Duyệt

Còn gọi là lăng ông Bà Chiểu, lăng tả quân Lê Văn Duyệt ở tai số 1 đường Vũ Tùng (P. 1 Q. Bình Thạnh).

< Lăng tả quân Lê Văn Duyệt.
Dulichgo
Lăng ông Bà Chiểu tọa lạc trên khu đất khá rộng 18.500m2 bao bọc bởi các con đường Đinh Tiên Hoàng - Phan Đăng Lưu - Trinh Hoài Đức và Vũ Tùng. Ở đây ngoài lăng của tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định thành và phu nhân còn có đền thờ ngài.

Lăng tả quân là nơi thu hút khá đông du khách đặt chân đến thành phố. Vào dịp đầu năm, người dân thành phố thường đến viếng ngài như để thể hiện lòng biết ơn đến người đã mở cõi phương nam cho đến tận ngày nay.

Lăng bắt đầu đông từ sau giao thừa. Lượng khách đến lăng có thể đông nhất trong các lăng mộ trong thành phố.

< Xin xăm.

Là một võ tướng và là nhà chính trị, tả quân Lê Văn duyệt theo phò Nguyễn Ánh từ thời còn chống nhau với Tây Sơn. Sau khi kết thúc chiến tranh với Tây Sơn, nhà Nguyễn được thành lập và ông nghiễm nhiên trở thành công thần.

Ông phục vụ trong 2 triều đại Gia Long và Minh Mạng. Ông có công rất lớn trong việc ổn định và phát triển vùng đất phía nam. Từ một khu vực bị chiến tranh tàn phá ông đã giúp xây dựng thành vùng đất bình yên trù phú. Ông là người phản đối sự lên ngôi của vua Minh Mạng đồng thời đứng ra bảo vệ các giáo dân công giro trước chính sách cấm đạo, bế môn tỏa cảng của nhà vua.

< Phóng sinh.

Ông mất, lăng mộ được chôn cất tại đây. Không lâu sau đó, vua Minh Mạng cho san bằng lăng mộ và dựng bia ghi tội của Lê Văn Duyệt. Sang đời Thiệu Trị, tội ông được xóa và khôi phục lại lăng mộ.
Dulichgo
Hiện nay kết cấu lăng mộ của tả quân Lê Văn Duyệt gồm có nhà bia, lăng mộ và miếu thờ. Du khách đến với lăng ông có thể dạo chơi thỏa thích trong một không gian rộng rãi.

Ngày đầu năm viếng tiền nhân để tưởng nhớ công đức người xưa là một hành động cần được phát huy để giáo dục thế hệ con cháu.

Theo Trần Chánh Nghĩa (Vietnamnet)
Du lịch, GO!
Du xuân một trong những ngôi chùa cổ nhất miền Trung
Trong những ngày đầu xuân Bính Thân 2016, hàng ngàn lượt người đã đến thôn Thuận Trạch, xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình du xuân, vãn cảnh chùa Hoằng Phúc và cầu lộc cầu an.

< Một góc chùa mới phục dựng.

Theo sử cũ, Hoằng Phúc là một trong những ngôi chùa cổ nhất miền Trung; chùa được tạo dựng cách đây trên 700 năm. Năm 1301, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã ghé thăm và cầu phước đức cho dân lành. Lúc đó Hoằng Phúc có tên là Am Tri Kiến. Năm 1716, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đặt tên chùa là Kính Thiên Tự. Năm 1821, vua Minh Mạng trong chuyến ngự giá Bắc tuần, ghé thăm chùa và cho đổi tên là Hoằng Phúc Tự, tục danh chùa Trạm hay chùa Quan.

< Cổng tam quan ngoại chùa Hoằng Phúc ngày đầu xuân.

Thời kháng chiến, đây là nơi che giấu cán bộ hoạt động cách mạng. Trong chiến tranh, chùa bị bom đạn đánh phá hư hỏng gần như toàn bộ; chỉ còn lại nền móng và một bên cổng tam quan. Một số hiện vật quý của chùa còn được nhân dân địa phương lưu giữ như chuông khánh, câu đối và tượng hộ pháp.

< Chính diện chùa Hoằng Phúc.

Năm 2010, UBND tỉnh Quảng Bình đã ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cho chùa Hoằng Phúc.

< Cổng tam quan chùa cũ được xem là nơi linh thiêng và đang được lưu giữ trong khuôn viên chùa mới. Một cây cổ thụ mọc trên cổng tam quan cũ, rễ cây ôm trọn phần cổng.

< Hàng nghìn lượt người đã đến viếng chùa đầu xuân.

< Giếng cổ được phục dựng.

Ngày 30.11.2014, UBND tỉnh Quảng Bình, UBND huyện Lệ Thủy và Công đoàn Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ khởi công phục dựng, tôn tạo di tích lịch sử chùa Hoằng Phúc với quy mô gồm: tam quan ngoại, tam quan nội, tháp Phật, tam bảo chùa, nhà thờ tổ, tả hữu hành lang, am hóa vàng và các công trình phụ trợ khác…

< Nhiều người dâng hương cầu may, cầu an tại chùa.
< Các Phật tử đọc kinh cầu an.


Sau hơn 1 năm xây dựng, chùa được hoàn thành. Ngày 15.1, các cơ quan, tổ chức đã cung nghinh xá lợi Phật tổ Thích Ca Mầu Ni từ chùa Shwendagon (chùa Vàng; ngôi chùa lớn nhất, linh thiêng nhất Myanmar) do Giáo hội Phật giáo Myanmar tặng về an vị tại chùa Hoằng Phúc. Ngày 16.1, lễ khánh hạ chùa được tổ chức; trong đợt này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia đối với chùa Hoằng Phúc.

< Nơi đặt các tượng Phật ở trong chùa.

Theo quan niệm của người dân địa phương, Hoằng Phúc là ngôi chùa linh thiêng, trước đây khi chưa phục dựng, dịp lễ tết đã có nhiều người đến dâng hương viếng chùa, cầu may cầu an. Nay chùa được phục dựng bề thế, cảnh quan đẹp càng thu hút nhiều người hơn. Bính Thân 2016 là xuân đầu tiên của chùa mới, chùa được khánh hạ đúng dịp tết đến xuân về nên Phật tử cũng như người dân xa gần nô nức trẩy hội chùa.

< Nhiều người vãn cảnh chùa trong đêm.

Theo Trương Quang Nam (Thanh Niên)
Du lịch, GO!
Ngàn Nưa linh thiêng
Ngàn Nưa (thuộc xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa) không chỉ là nơi năm xưa Bà Triệu khởi binh chống lại ách đô hộ của Đông Ngô, mà tương truyền trên đỉnh Am Tiên ở Ngàn Nưa có huyệt đạo linh thiêng bậc nhất nước ta.

Chủ sơn của xứ Thanh linh địa

Chúng tôi ngược dốc Ngàn Nưa lên đỉnh Am Tiên vào buổi sáng mai khi hơi sương còn giăng kín lối đi. Am Tiên mùa này thưa vắng khách thăm, không gian của núi thiêng nhuốm vẻ hoang sơ, u tịch như trong những câu chuyện thần tiên, kỳ bí lưu truyền ở vùng Kẻ Nưa - Cổ Định. Trong cảnh sắc mờ ảo sương khói, Ngàn Nưa hiện lên trầm mặc, với những thác nước trắng xóa như từ giữa biển mây đổ xuống những trảng rừng mờ đục xa xa.

Sương dần tan, đứng trên đỉnh Am Tiên, ở độ cao 538 m so với mực nước biển, nhìn xuống vùng đồng bằng Nông Cống, Triệu Sơn với đồng ruộng, xóm thôn thật yên bình. Này là dòng Lãn Giang hiền hòa tưới mát những cánh đồng trù mật, xanh ngắt. Đây là giếng Tiên, ao Hóp, nơi các nàng tiên tắm mát trước khi trở về trời. Kia là núi Tía, núi Lễ Động gắn liền với truyền thuyết ẩn sĩ Tu Nưa nhiều pháp thuật, hóa thành chim hạc bay về trời...

Ông Lê Bật Sơn, thủ từ đền Am Tiên, cho biết nơi đây là đỉnh cao nhất của Ngàn Nưa. Ngày xưa, để lên lễ Phật, lễ tiên, lễ thần linh, lễ Thánh Mẫu... khách hành hương phải đi bộ non nửa ngày, vượt qua 7 ngọn núi hiểm trở. Còn theo nhà nghiên cứu sử học Phạm Tấn, trong tín ngưỡng tâm linh, từ xưa Ngàn Nưa vẫn được xem là núi thiêng và là trung tâm của đạo Tu Tiên (biến thể của đạo Lão), đạo Phật, đạo Mẫu, đạo thờ thần... từng rất thịnh. Hơn thế, Ngàn Nưa vẫn được người xưa ví là chủ sơn (núi chủ) của Ái Châu - xứ Thanh linh.
Dulichgo
Sử cũ còn ghi, chính ở Ngàn Nưa linh thiêng, năm 248, Bà Triệu cùng người anh trai Triệu Quốc Đạt đã tập hợp nghĩa sĩ, luyện tập võ nghệ, dấy binh khởi nghĩa, đánh đuổi giặc Đông Ngô, giành lại giang sơn, xã tắc. Dù cuộc khởi nghĩa thất bại và sau đó, Bà Triệu phải tuẫn tiết ở núi Tùng (xã Triệu Lộc, H.Hậu Lộc, Thanh Hóa) nhưng hình ảnh người phụ nữ phi thường với câu nói đầy khí phách: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta” vẫn còn mãi vang vọng.

Huyền tích ẩn sĩ tu tiên

Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Ở Tinh Mễ, xã Quần Ngọc phía tây của huyện Nông Cống (nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn - PV) có tên gọi là khu Na Sơn (núi đuổi ma). Tương truyền núi có nhiều ma quỷ nhưng rồi một vị sơn tăng đến đây đọc chú, dần dần ma quỷ biến mất đi nên có tên gọi như thế. Mạch núi vốn được bắt nguồn từ huyện Lôi Dương (nay thuộc huyện Thọ Xuân) đổ lại, từng dãy liền tiếp, dài suốt mười mấy dặm. Nơi đây có 4 ngọn nước đổ dồn, nhà phong thủy nói bảy phiến long, bảy phiến hổ tức là nơi này. Trên ngọn cao chót vót của dãy núi có một ngôi chùa cổ, tục gọi là Am Tiên. Phía tả có cái động, tối mà sâu, dài mà hiểm. Triều Trần có một người hái củi ẩn cư nơi đó, có người gọi là Hoàng My tiên sinh...”.
Dulichgo
Nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Tấn còn dẫn ra rất nhiều sách cổ ghi chép về Ngàn Nưa. Các ghi chép dẫu dài, ngắn khác nhau, nhưng đều có chung nội dung phản ánh về người tiều phu núi Nưa - tức vị ẩn sĩ thời Trần - Hồ từng giấu mình trên đỉnh Am Tiên ở Ngàn Nưa để tu tiên đắc đạo mà không chịu ra giúp nhà Hồ. Sau nhiều lần mời gọi không được, Hồ Hán Thương đã cho đốt núi, vị ẩn sĩ ấy hóa thành hạc đen bay lên trời. “Thời Trần - Hồ, Ngàn Nưa đã nổi tiếng là núi thiêng để các bậc ẩn sĩ đến tu tiên, lánh xa thế sự. Đến thời Lê và thời Nguyễn, các ngôi chùa, đền, miếu lần lượt được xây dựng...”, nhà nghiên cứu Phạm Tấn nói.

Từ trung tâm Am Tiên, đạo Tu Tiên đã phát triển mạnh ra các vùng xung quanh núi Nưa. Những tên gọi của các đỉnh núi ở Ngàn Nưa đều nhắc nhớ đến bóng dáng các đạo sĩ tu tiên, như đỉnh Các Sơn, Tượng Sơn, núi Sẻ, Bể Cạn... cùng những dấu tích như bàn cờ Tiên, chùa Tiên, giếng Tiên, vườn Đào Tiên, vườn thuốc Tiên... mang đậm truyền thuyết, huyền thoại ly kỳ, hấp dẫn. Đến ngày nay, ở vùng Kẻ Nưa - Cổ Định, dưới đỉnh Am Tiên vẫn còn lưu truyền nhiều câu chuyện thần tiên, như truyện các tiên ông xuống chợ, truyện ông Tu Nưa giúp dân chống lại cường quyền, truyện ông Tu Nưa giúp dân gánh núi...

Huyệt đạo linh

Theo truyền thuyết, nước ta có 3 huyệt đạo quốc gia, trong đó huyệt đạo Am Tiên là linh thiêng nhất. Tương truyền vào thời Đường, tướng Cao Biền được cử sang cai trị nước ta, thấy nơi đây có hình sông, thế núi linh thiêng, long mạch rất vượng, nên muốn phá đi. Cao Biền thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc giả lập đàn cúng tế lừa thần bản địa đến rồi dùng kiếm báu chém đầu, xong đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Khi bay đến Ngàn Nưa, Cao Biền đã tìm cách trấn yểm huyệt đạo trên đỉnh Am Tiên nhưng bất thành (?).

Cứ theo cách lý giải của nhà nghiên cứu Phạm Tấn thì dẫu truyện Cao Biền có tà thuật trấn yểm long mạch, huyệt đạo chỉ là truyền thuyết hoang đường nhưng đức tin vào một huyệt đạo linh thiêng trên đỉnh Am Tiên trong dân gian là có thật. “Vì sao Bà Triệu lại chọn nơi này làm nơi dấy binh khởi nghĩa; vì sao các bậc ẩn sĩ thời Trần - Hồ lại đến đây tu tiên đắc đạo; vì sao chỉ với một đỉnh núi chật hẹp lại được các đạo Tu Tiên, đạo Phật, đạo Mẫu, đạo thờ thần cùng coi trọng? Chưa có sự giải thích nào cho những câu hỏi đó nhưng chắc hẳn các bậc cao minh chọn đỉnh Ngàn Nưa để gây dựng sự nghiệp hoặc ở ẩn tu tiên có nguyên do của nó. Vậy nên tự xưa người dân tin rằng Am Tiên là đỉnh thiêng, là huyệt đạo huyền bí bằng niềm tin tâm linh cũng là điều dễ hiểu”, nhà nghiên cứu Phạm Tấn nói.
Dulichgo
Dẫn chúng tôi lên mỏm đất bằng phẳng rộng chừng vài trăm mét vuông trên đỉnh Am Tiên, ông Lê Bật Sơn nói rằng đây chính là huyệt đạo linh thiêng của nước Nam mà xưa kia Cao Biền trấn yểm bất thành. Ông bảo, cứ vào những thời khắc biến động của đất nước, đêm đến người dân quanh vùng lại thấy một quầng sáng bí ẩn trên đỉnh Ngàn Nưa, ngay tại Am Tiên này.

“Vào mùng 9 tháng giêng hằng năm - ngày được dân gian lưu truyền là ngày mở cửa trời, đứng ở trung tâm của huyệt đạo Am Tiên, nhắm mắt lại, thả lỏng cơ thể, ta sẽ thấy trước mắt một quầng sáng màu đỏ, rồi chuyển sang màu da cam, cuối cùng là màu trắng xanh lẫn các hạt bụi. Trong khoảnh khắc ấy, người ta sẽ có cảm giác như mình đang bay bổng và hòa cùng với những chuyển động của vũ trụ bao la. Tâm hồn và thể xác trở nên thư thái, nhẹ nhõm, kỳ lạ lắm...”, ông Sơn nói.

Ở xứ Thanh này có lẽ không ai thông thuộc từng mỏm đá gốc cây trên đỉnh Am Tiên như ông Sơn. Có lẽ cũng là thứ duyên trời ban, nên gia đình ông đã gắn bó làm người “gác đền” Am Tiên suốt ba đời. Khi đứng ở đỉnh Am Tiên, chợt nghĩ, niềm tin về huyệt đạo linh thiêng trên đỉnh Am Tiên của dân gian có lẽ cũng như niềm tin vào hai chữ “Thiên mệnh” trong cõi nhân gian này vậy...

Thep Ngọc Minh (Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Chốn bồng lai trên đỉnh Am Tiên
Kỳ bí huyệt đạo trên đỉnh Ngàn Nưa
Khu di tích Am Tiên
Đình Dương Lâm - Đà Nẵng
Đình Dương Lâm toạ lạc tại thôn Dương Lâm, xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang.

Làng Dương Lâm từ trước đến nay phía Đông giáp làng Đồ Bản và Cẩm Toại, tây giáp làng Cư Nhơn và An Tân, nam giáp làng Cẩm Toại, bắc giáp làng Tuý Loan. Nguyên trước đây làng có tên là Dương Lam, thuộc xã Dương Sơn, đến triều Bảo Đại (1925- 1945) mới đổi tên gọi thành Dương Lâm. Theo người dân ở đây cho biết thì những ngườii đầu tiên vào đây khẩn hoang, lập làng đầu tiên là hai vị thuỷ tổ của hai tộc Thi và tộc Phạm. Dân làng tôn hai vị này là “lưỡng lộc đồng tiền hiền”

Song song với việc lập làng, theo truyền thống văn hoá dân tộc, truyền thống tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân,  đình Dương Lâm được dân làng dựng nên để thờ các vị Thần .
Dulichgo
Ngôi đình hiện nay là một ngôi chùa thờ Quan Công.Trước đây ngôi đình được xây dựng cách đó 500m. Các bằng sắc, đồ thờ tự đều được để ở ngôi đình cũ này. Cách mạng tháng Tám thành công, ngôi đình cũ Dương Lâm được dùng làm nơi hội họp của nhân dân. Do đó tất cả các lư hương, đồ thờ tự, bằng sắc của đình đều được đưa sang ngôi chùa và từ đó dân làng dùng ngôi chùa làm đình làng Dương Lâm.

Đình Dương Lâm toạ lạc trên gò cao tại trung tâm làng Dương Lâm, cách chợ Tuý Loan về hướng đông hơn 1km .  Kiến trúc của đình Dương Lâm được xây dựng khá đặc biệt, vật liệu xây dựng là gỗ,xi măng, mái lợp ngói âm dương, kiến trúc theo lối một gian hai chái với bốn cột chính cao 3m đường kính 28cm, vì kèo nóc được liên kết theo kiểu giao nguyên đỡ đòn đông. Một trụ trốn ăn mộng vào thnh trính với hai lá giang ra đỡ vì kèo giao nguyên này.

Từ cột chính, ba thanh kèo nhì, kèo đấm, kèo quyết ăn mộng vào cột này xoè hình rẻ quạt nối với cột cửa, cột đấm và cột quyết. Từ hàng cột cửa những thanh kèo uốn cong được nối với hàng cột hiên. Các thanh trính, thanh kèo đều được trạm trổ tỉ mỉ, tinh xảo, hình đâù rồng, hình mây cuộn, hoa lá rất đẹp.

Một điểm có phần khác biệt ở đình Dương Lâm là không có sự chênh lệch rõ rệt về kích thước giữa các chiều ngang, dọc mà mặt bằng gần như là một hình vuông. Bởi vậy thoáng nhìn nó giống kiểu kiến trúc nhà tứ trụ rất phổ biến ở đình làng Nam bộ.
Dulichgo
Đình không trổ cửa theo mái trước tam gian như thông thường mà trổ dọc theo đòn đông, đây là một kiểu duy nhất có ở đình Dương Lâm trong tất cả đình làng Đà Nẵng. Trang trí bên ngoài phía trên nóc có đắp tượng Quan Công trong khám nhỏ tượng trưng, dãy dưới được trang trí theo lối cuốn thư với hình ảnh long, ly, quy, phượng chạy suốt mặt ngang của mái. Bốn hàngcột hiên có bốn câu đối.

Hằng năm, ở tại đình, vào dịp tết Nguyên đán thường tổ chức hội chơi từ chiều mồng một đến mòng ba, mồng bốn tết. Đăc biệt là hội bài chòi lôi cuốn đủ mọi tầng lớp nhân dân tham gia.

Hằng năm dân làng tổ chức lễ hội vào các ngày:

- Tết Nguyên đán cầu cho năm mới được “bình an, khang thái, phúc lộc phong vinh”
- Lễ giỗ tiền hiền vào ngày 14-4 âm lịch
- Lễ chạp mả tiền hiền vào ngày 07- 11 âm lịch

Đình Dương Lâm,được UBND thành phố công nhận là di Lịch sử-Văn hoá tại Quyết định số 9859/QĐ-UBND ngày 23/12/2005.

Theo Cổng TTĐT Đà Nẵng
Du lịch, GO!
Những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng miền Bắc
(DTO) - Trong không khí xuân tràn ngập, sau khi dâng hương lễ Phật cầu mong một năm mới an lành, vãn cảnh đền chùa sẽ mang lại cho bạn những phút giây thanh tịnh và yên bình.

1. Phủ Tây Hồ, Hà Nội

Phủ Tây Hồ được xem là một trong những chốn linh thiêng nhất hệ thống đền, chùa ở Hà Nội. Hàng năm cứ dịp Tết đến xuân về, nơi đây lúc nào cũng đông đúc, không chỉ là người dân Hà Nội mà nhiều khách thập phương về dâng hương.

Phủ Tây Hồ trước đây thuộc đất của một ngôi làng cổ thuộc kinh thành Thăng Long, nay thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, nằm trên bán đảo lớn của làng Nghi Tàm, nhô ra giữa Hồ Tây. Nơi đây thờ bà chúa Liễu Hạnh. Sau khi thắp nhang cầu xin một năm an lành, bạn có thể vãn cảnh phủ, cảm nhận vẻ đẹp của Hà Nội khi hoàng hôn buông trên mặt hồ, một khung cảnh vô cùng thị vị.

2. Chùa Hương, Hà Nội

Cách Hà Nội khoảng 40 km, bạn dễ dàng đi chùa Hương trong ngày. Đây là một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam. Ngôi chùa được xây dựng với quy mô chính vào khoảng cuối thế kỷ 17, sau đó bị huỷ hoại trong kháng chiến chống pháp năm 1947 và được phục dựng lại năm 1988.
Dulichgo
Hằng năm, bắt đầu từ mồng 6/1 đến hết tháng 3 âm lịch diễn ra lễ hội chùa Hương. Rất đông các Phật tử từ khắp cả nước đổ về trảy hội, vừa để lễ bái, cầu nguyện, vừa chiêm ngưỡng cảnh đẹp non nước.
Thật thú vị khi ngồi lênh đênh trên con đò, xuôi theo dòng suối Yến, cảm nhận vẻ đẹp của đất trời vào xuân.

3. Yên Tử, Quảng Ninh

Khu di tích danh thắng Yên Tử là một quần thể chùa, am, tháp, tượng, rừng cây cổ thụ và cảnh vật thiên nhiên thuộc xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Đỉnh núi Yên Tử có chùa Đồng ở độ cao 1.068m so với mặt nước biển, nổi tiếng linh thiêng.
Dulichgo
Yên Tử trở thành trung tâm của Phật giáo từ khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà sa tu hành và thành lập một dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam, đó là dòng Thiền phái Trúc lâm Yên Tử. Lễ hội Yên Tử diễn ra từ ngày 10 tháng Giêng cho tới hết tháng 3 âm lịch.

Ngày nay có hệ thống cáp treo nên du khách dễ dàng lên được chùa Đồng mà không tốn nhiều công sức. Vì vậy, không chỉ vào dịp Tết mà khách thập phương tới đây vãn cảnh quanh năm. Từ trên đỉnh cao, bạn có thể phóng tầm mắt thưởng lãm phong cảnh của núi non, mây trời.

4. Bà chúa kho, Bắc Ninh

Đền bà Chúa Kho cách Hà Nội 25 km, nổi tiếng linh thiêng về cầu làm ăn buôn bán. Đầu năm, nơi đây nườm nượp khách đến dâng hương, cầu mong một năm làm ăn thuận lợi. Và cuối năm nơi đây cũng nô nức người đến trả lễ.

Đền nhìn về hướng nam, các công trình kiến trúc chính của đền gồm sân đền, hai dải vũ, toà tiền tế, công đệ nhị và hậu cung, tất cả tạo thành một thể thống nhất, uy nghi. Đến đây ngoài việc dâng hương, bạn cũng có thể tìm hiểu về lịch sử ngôi đền linh thiêng.

5. Bái Đính, Ninh Bình

Chùa Bái Đính được mệnh danh là ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á. Hằng năm, chùa mở vào đầu xuân, đón hàng triệu khách thập phương về dự. Nơi đây hấp dẫn du khách khắp nơi bởi ngôi chùa có nhiều kỷ lục: diện tích lớn nhất Việt Nam, chùa có tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất châu Á, chùa có hành lang La Hán dài nhất châu Á…
Dulichgo
Vãn cảnh chùa, bạn sẽ cảm nhận được không gian thanh tịnh nơi đây, với phong cảnh sơn thủy hữu tình. Đây là điểm lý tưởng cho nếu bạn chỉ du xuân trong ngày.

6. Đền Trần, Nam Định

Mỗi năm vào ngày khai ấn, du khách đổ về chật kín các lối đi. Nhiều người phải chen lấn, dẫm đạp lên nhau để xin ấn.

Hội đền Trần diễn ra từ ngày 15 đến ngày 20 tháng tám âm lịch hàng năm. Những năm chẵn hội mở to hơn năm lẻ. Song không đợi đến chính hội, khách thập phương đã nô nức về trẩy hội đền Trần, mong muốn điều tốt lành, thịnh vượng.

Theo Thu Hà (Dân Trí)
Du lịch, GO!
Phủ Quảng Cung - Một điểm du lịch tâm linh
(BNĐ) - Phủ Quảng Cung (Phủ Nấp) ở thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng (Ý Yên) là nơi thờ Mẫu Phạm Tiên Nga, được các triều đại phong kiến sắc phong là “Đệ nhất tiên thiên Thánh Mẫu”, được UBND tỉnh công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh năm 2005, được Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam trao bằng bảo trợ di sản năm 2011.

Theo truyền thuyết dân gian, Mẫu Phạm Tiên Nga là kiếp thứ nhất của Thánh Mẫu Liễu Hạnh - một trong “tứ bất tử” trong tín ngưỡng dân gian của dân tộc Việt Nam. Tương truyền Mẫu Phạm Tiên Nga sinh năm 1434 trong một gia đình họ Phạm neo người ở thôn Vỉ Nhuế, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, xinh đẹp, lớn lên không lấy chồng. Sau khi cha mẹ mất, bà đi khắp nơi cứu giúp nhân dân như đắp đê Đại Hà quanh xã, làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu ven sông, sửa chữa đền, chùa, động viên trẻ em học tập...

Bà đã đóng góp nhiều công sửa chữa chùa Sơn Trương (Ý Yên), chùa Long Sơn, chùa Thiện Thành (Hà Nam)… Bà mất năm 1473, được người dân quê hương nhớ ơn lập đền thờ.
Dulichgo
Theo các tài liệu lịch sử để lại, Phủ Quảng Cung được xây dựng ngay sau khi bà mất trên nền nhà sinh ra Thánh Mẫu và được tu sửa nhiều lần, đến năm Duy Tân thứ 5 (1911) được tôn tạo to đẹp trang nghiêm. Sau khi bị tàn phá bởi chiến tranh, năm 1973 Phủ Quảng Cung được nhân dân địa phương phục hồi xây dựng.

Đặc biệt từ đầu năm 2001, được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền từ huyện đến xã, sự đóng góp của nhân dân và khách thập phương, phủ được tu bổ khang trang, xây dựng thêm các cung thờ, hồ bán nguyệt.

Hiện nay, trong phủ còn giữ được nhiều đồ tế tự quý hiếm. Đó là tượng Mẫu Phạm Tiên Nga bằng đồng với tư thế ngồi thiền trên toà sen được tạc năm 1770, các nếp áo được tạc giản dị, thân chạm lưỡng long chầu nguyệt mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê và khắc chữ Hán “Quảng Cung linh từ”.

Không giống như tượng Mẫu Liễu được thờ tại các nơi khác, tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Nấp có nhiều điểm khác biệt, độc đáo. Mẫu Liễu có dáng ngồi xếp bằng rất khoan thai trong trang phục giản dị, nét mặt bình thản. Các nếp áo được tạo tác một cách giản dị với hai lớp áo choàng ở ngoài và một chiếc yếm đào phía bên trong làm cho pho tượng trở nên sống động, gần gũi.
Dulichgo
Ngoài ra, còn bát hương bằng đồng, 34 bản khắc gỗ có nội dung của 64 quẻ thẻ, 3 sắc phong thời nhà Nguyễn cùng với các hoành phi, câu đối ghi dấu sự tích và ca ngợi công đức của Mẫu. Lễ hội truyền thống Phủ Quảng Cung được tổ chức vào đầu tháng 3 âm lịch hằng năm, trong đó đặc sắc nhất là lễ rước kinh lấy nước và lễ tế nến đêm mùng 4 tháng 3. Tại bến đò Vọng có 5 thuyền và 1 chiếc kiệu hoa, trên kiệu có gắn quả bầu khô tượng trưng cho việc lấy nước của Mẫu và dụng cụ lấy nước gồm 2 muôi đồng và 1 chóe đựng nước.

Thuyền lớn chở kiệu Mẫu do 8 thiếu nữ khiêng, trang phục đầu quấn khăn, chân quấn xà cạp, có dây thắt lưng. Sau khi các bô lão trong làng và ban tổ chức làm lễ, thủ nhang múc nước vào chóe bằng sành và thả tiền vàng, thuyền quay nhiều vòng giữa sông sau đó mới vào bờ. Chóe nước thiêng sau đó được đặt trên kiệu Mẫu rước về Phủ Quảng Cung. Ngày nay, lễ hội vẫn được nhân dân địa phương duy trì, thu hút rất đông khách thập phương đến tham dự.

< Lễ rước Mẫu trong hội Phủ Quảng Cung.

Trên địa bàn tỉnh ta có 2 địa danh là Phủ Quảng Cung (Ý Yên) và Quần thể di tích Phủ Dầy (Vụ Bản) gắn với thuyết "tam sinh, tam hóa" của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, cụ thể là lần giáng thứ nhất và lần giáng thứ hai của Thánh Mẫu. Hai địa điểm này chỉ cách nhau 10km, rất thuận lợi để xây dựng thành tour du lịch tâm linh. Cách Phủ Quảng Cung khoảng 5km ở thôn Dương Phạm, xã Yên Nhân có cây dã hương khoảng 500 năm tuổi. Ngay tại xã Yên Đồng, từ Phủ Quảng Cung xuôi xuống gần 2km là bến đò Vọng trên sông Đáy tương truyền là nơi Mẫu lấy nước để chữa bệnh cho nhân dân. Tại đây, Thủy Phủ Mẫu đang được xây dựng. Các điểm du lịch này có thể gắn kết tạo thành tuyến du lịch tâm linh hấp dẫn trong dịp lễ hội đầu xuân.
Phủ quang Cung với lịch sử lâu đời qua sự giữ gìn và bảo tồn của người dân địa phương là niềm tự hào của Huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Theo Đức Thiện (Báo Nam Định)
Du lịch, GO!
Đền Cảnh Xanh ở Tuyên Quang
Đền Cảnh Xanh (còn gọi là đền Cây Xanh) thuộc phường Minh Xuân (TP Tuyên Quang). Đền được dựng theo hình chữ Đinh, gồm tòa tiền đường và hậu cung, mái được đắp nổi rồng chầu mặt nguyệt với 4 đầu đao cong vút. Đền thờ Đức Thánh mẫu Thượng ngàn cai quản vùng núi.

Trong đền hiện còn lưu giữ một số hiện vật có giá trị, như quả chuông đồng cổ, 3 bức đại tự bằng chữ Hán và 5 đạo sắc thời Nguyễn. Lễ chính đền vào ngày 18 tháng Giêng âm lịch; ngày mùng 3 tháng Tư lễ vào hè; ngày 3 tháng Bảy lễ ra hè, ngày 20 tháng Tám giỗ Đức Thánh Trần; ngày 10 tháng Chạp lễ tất niên. Ngày lễ lớn nhất của đền là ngày 18 tháng Giêng âm lịch.

Theo truyền thuyết, thời Hùng Vương thứ 18, Tản Viên Sơn Thánh (con rể Hùng Vương) có một người con gái thông minh, xinh đẹp, văn võ toàn tài, húy là La Bình hay còn gọi là Cô Bé. Cô đi đến đâu, mưa tạnh, rét ngừng, muông thú ùa đến giao duyên làm bạn. Vua đã phong hiệu cho nàng là “Thượng ngàn công chúa cai quản các cõi rừng của Nam Giao”.
Dulichgo
Một hôm người dân khắp vùng mơ thấy Thượng Ngàn công chúa hạ giá se mây thăm thú đại ngàn. Từ trên trời cao, nàng nhìn xuống Lô giang, dòng sông khúc quanh khúc lượn, ghềnh đá chênh vênh, trăng gác đầu non hắt hiu ánh vàng trải xuống dòng sông mềm như dải lụa. Thấy phong cảnh hữu tình, nàng hạ giá nghỉ lại nơi đây (đền Cảnh Xanh ngày nay).

Sáng ra, ai cũng kể lại giấc mộng đêm qua, rồi cùng nhau đến nơi xem xét. Lạ thay, nơi đây chỉ còn lại một cây xanh, thân rễ đan xen, cành lá rủ xuống giống như động tiên thiên hình vạn trạng.

Thấy sự kỳ lạ, mọi người mang hương hoa đến vái lạy, rồi lập một am nhỏ tại gốc cây để tuần rằm nhang khói. Thời gian trôi đi, cây xanh đã phủ kín am thiêng, thấy không tiện cho việc thờ phụng lâu dài, người dân trong vùng đã dâng lễ xin Bà chúa Thượng ngàn cho lập đền thờ trong khu vực cây xanh như hiện nay.

Đền Cảnh Xanh được dựng theo hình chữ Đinh, gồm toà tiền đường và hậu cung, mái được đắp nổi rồng chầu mặt nguyệt với bốn đầu đao cong vút cánh điệu.

Trong đền hiện còn lưu giữ một số hiện vật có giá trị, như quả chuông đồng cổ, 3 bức đại tự bằng chữ Hán và 5 đạo sắc thời Nguyễn. Lễ chính đền vào ngày 18 tháng Giêng âm lịch; ngày mùng 3 tháng Tư lễ vào hè; ngày 3 tháng Bảy lễ ra hè, ngày 20 tháng Tám giỗ Đức Thánh Trần; ngày 10 tháng Chạp lễ tất niên.
Dulichgo
Ông Nguyễn Đình Khược, Trưởng đền Cảnh Xanh cho biết: Từ đêm giao thừa Mậu Tý đến nay, nhà đền đã đón hơn 7.000 lượt khách tham quan, đông gấp rưỡi năm trước. Ngoài bà con trong tỉnh, còn có rất đông du khách từ Hà Nội, Hải Phòng và cả những đoàn khách từ miền Nam ra ghé thăm. Hiện nay, nhà đền đang huy động công đức của du khách thập phương để xây dựng đền thờ Đức Thánh Trần, xây dựng cả khu nhà ăn, nghỉ của đền nhằm phục vụ nhu cầu tham quan du lịch tâm linh của đồng bào mọi miền Tổ quốc.

Theo Báo Tuyên Quang
Du lịch, GO!
Dãy núi Huyền Đinh
Dãy núi Huyền Đinh là một danh sơn mang trên mình nhiều huyền thoại được lưu truyền trong dân gian và thư tịch cổ. Cùng với Sông Lục, núi Huyền từ lâu đã trở thành biểu tượng cao đẹp và là niềm tự hào đối với không chỉ mỗi người dân huyện Lục Nam, mà còn là niềm tự hào của Bắc Giang.

Với độ cao trung bình trên dưới sáu trăm mét, địa hình hiểm trở, kỳ thú. Nhiều công trình kiến trúc chùa tháp cổ có quy mô bề thế ở vùng núi Huyền Đinh do chính các Tổ của Trúc Lâm phái xây dựng vào hồi thế kỷ 13-14. Tuy nhiên, do thời gian những những biến cố của lịch sử dân tộc, nhiều ngôi chùa cổ trong số này đã bị hoang phế, đổ nát chỉ còn lại nền móng kiến trúc và vật liệu cổ.

Chùa Sơn Tháp: thuộc địa phận xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Chùa được xây dựng vào thế kỷ 13, hiện nay vẫn còn dấu tích của nền móng và một ngọn tháp cổ. Đây chính là nơi mà Thiền sư Pháp Vân đã viên tịch. Chùa có một ngôi bảo tháp của Hoà thượng Huyền cơ Thiên thọ Pháp Vân, ngày nay tháp đã đổ chùa đã tan, nhân dân địa phương xây dựng lại thành một am nhỏ trên nền cũ để du khách thập phương đến lễ Phật.
Dulichgo
Chùa Yên Mã: nằm cách chùa Sơn Tháp không xa chỉ chừng 1km đường rừng núi nhưng chùa Yên Mã thuộc xã Bắc Lũng, huyện Lục Nam là cả một quần thể nền móng các công trình kiến trúc đồ sộ gồm các toà: Tam bảo, nhà bếp, nhà khách… các nền móng xây dựng, sân, bậc thềm, vật liệu xây dựng, giếng nước cổ, dấu chân Phật... chùa nhìn về hướng Côn Sơn-Kiếp Bạc.

< Di tích chùa Trản dưới chân dãy Huyền Đinh.

Đặc biệt, nơi đây còn lưu dấu chân Phật tổ Bồ Đề Đạt Ma trên một tảng đã lớn cạnh chiếc giếng cổ. Bên cạnh đó một số vật dụng của nhà chùa còn lại ở đây như:cối đá, đồ gốm, chân tảng, các vật liệu gạch ngói đất nung thời Trần còn lại rất nhiều. Tiếc rằng ngôi chùa này ở quá xa khu dân cư nên những gì còn lại chỉ là sự hoang phế.

Chùa Bát Nhã (Bình Long tự): thuộc xã Huyền Sơn, Lục Nam, chùa nằm trên núi Bát Nhã ngọn núi do chính các vị cao tăng tu thiền tại đây đặt tên, cho nên thường gọi là chùa Bát Nhã. Chùa đã bị đổ, cây cỏ mọc um tùm, chùa xưa có quy mô lớn nay còn nền chùa, giếng nước cổ, và những cây cổ thụ xung quanh.

Chùa Hồ Bấc: thuộc xã Nghĩa Phương, Lục Nam, nằm trên độ cao chừng 600m, chùa được xây dựng thời Trần, nằm trong quần thể khu danh thắng Suối Mỡ, giữa núi rừng bạt ngàn, cảnh quan chốn thiền này đẹp như một bức tranh. Chùa Hồ Bấc có một hồ nước lớn, xung quanh bốn bề rừng núi thâm u. Chùa bị đổ nát hoàn toàn và chưa được khôi phục lại. Hiện nay chỉ còn các dấu tích vật chất của công trình cổ xưa như: vật liệu xây dựng, gạch, đá, bậc thềm…
Dulichgo
Những công trình kiến trúc chùa tháp cổ kính nguy nga một thời đó đã được sử sách ghi lại rất rõ, đây đều là những ngôi chùa lớn và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với nhân dân trong vùng tây Yên Tử.

Dãy Huyền Đinh còn có khu danh thắng Suối Mỡ là một khu du lịch sinh thái, nhân văn và tâm linh nổi tiếng của tỉnh Bắc Giang, khu du lịch Suối Mỡ là địa chỉ cho nhiều đoàn khách vãn cảnh, viếng thăm, lễ bái cầu an với các khu đền Hạ, đền Trung, đền Thượng…Du khách có thể thưởng ngoạn các phong cảnh đẹp của miền núi rừng, ghé thăm các địa danh như Đấu Đong Quân, bãi Quần Ngựa-tương truyền là nơi luyện kỵ mã của quân đội nhà Trần nên có địa danh trên, thăm cổng Xanh, đền Trò… tất cả tạo nên một bức tranh kỳ vĩ, mênh mang giữa chốn núi rừng bạt ngàn.

Không chỉ có vậy, non thiêng Huyền Đinh và những khu vực xung quanh còn chứa đựng nhiều câu chuyện huyền bí khác gắn với các địa danh như: Hòn Tháp, Đèo Heo, Hút Gió, Hòn Trứng, thuyền thuyết Ông Cộc, Ông Dài…

Theo Cổng TTĐT Tỉnh Bắc Giang
Du lịch, GO!